Số 184

Ngày 1 tháng 8 năm 2017

www.GiaoMua.com

Nguyệt San Giao Mùa
P.O. Box 378
Merrifield, Virginia 22116
USA

GiaoMua@hotmail.com

Mục Lục

Bài vở trên Giao Muà là do các tác giả gửi đăng và Giao Muà không chịu trách nhiệm về nội dung. Muốn xin trích đăng lại, xin liên lạc với GiaoMua@hotmail.com.

I . Thơ _______________________________________________________________________

1. Tuổi Hạc Quê Người ______ Phan Tưởng Niệm
2. Yêu Và Ghen ______ Dạ Lan
3. Một Làn Hương ______Lê Miên Khương
4. Vang Vọng Trống Chiêng ______ Sông Cửu
5. Giấc Nồng ______ Vân Hà
6. Hay Là ? ______ Á Nghi
7. Sương Khói Liêu Trai ______ Chương Hà
8. Ðò Ơi! Tôi Về Bến Xưa... ______ Tình Hoài Hương
9. Gót Hài, Dấu Chân Kỷ Niệm ______ ChinhNguyen/H.N.T.
10. Trách ______ Nguyễn Thị Thanh Dương
11. Qua Rồi Ngày Vui ______ Ðông Hòa Nguyễn Chí Hiệp
12. Nửa Ðời Lưu Lạc ______ Song An Châu
13. Ở Nơi Ðó ! ______ Hàn Thiên Lương
14. Tha Hương Tâm Sự ______ Trần Ðan Hà

II . Văn _______________________________________________________________________

1. Việt Kiều ___________ Nguyễn Thị Thanh Dương
2. Huấn Luyện Phi Hành (truyện dài nhiều kỳ) ___________ Tình Hoài Hương
3. Ðôi Mắt Màu Hi Vọng ___________ Phan Thái Yên
4. Ngày Giỗ Mẹ ___________ Trần Thành Mỹ
5. Phân Loại Tục Ngữ Ca Dao ___________ Phạm hy Sơn
6. Tâm Sự Người Tuổi Hoàng Hôn Xa Xứ ___________ Song An Châu
7.Vầng Trăng Bên Sông ___________ Sông Cửu
8. Ngộ Chiêu ___________ Ý Nga và Anh
9. Lòng Người ___________ Hai Hùng SG

III . Trả Lời Bạn Ðọc__________________________________________________

1. Nhắn Tin/Trả Lời Bạn Ðọc _______ Ban Biên Tập

I . Thơ __________________________________________________

1. Tuổi Hạc Quê Người  
  

Ở đây mây nước trời xa lạ
Ngày tháng loanh quanh con phố người.
Mái tóc điểm màu hai số kiếp
Tủi buồn thân phận  kiếp lưu vong . 

Hăm mấy năm rồi nơi xứ lạ
Từng đêm vọng tưởng nhớ quê nhà.
Nhớ cây bưởi ngọt trong vườn nhỏ
Nhớ chiều tan học dưới mưa sa . 

Nhớ mẹ nhớ cha và tất cả
Những gì thân thiết trên quê hương
Từ con sông cạn , ngôi nhà cũ ,
Ðồng ruộng xanh tươi , chiếc cổng trường . 

Ðất nước đã qua thời lửa loạn
Sao  còn phải sống kiếp xa quê ?!
Ðôi mắt sao còn nhiều ngấn lệ !
Mõi mòn năm tháng đợi ngày về . 

Tôi biết muốn về thì cứ việc ?
Nhưng về cuộc sống sẽ sao đây !
Khi bếp lửa hồng không nóng ấm,
Khi lời chưa nói được thành lời . 

Quê hương còn phủ vầng mây ám ,
Ðất nước tôi còn lũ quạ đen,
Dân tôi còn sống đời lam lũ .
Nên tôi còn lăn lóc quê người !

                                                
 Phan Tưởng Niệm  
Mục Lục


2. Yêu Và Ghen Hình bóng ai sao mãi chập chờn Mổi đêm về lòng quá cô đơn Phãi chăng Em nhớ người yêu dấu Càng ngày thương nhớ lại nhiều hơn Chợt nhớ quay quắt kỷ niệm nào... Ngày đầu hai đứa mới yêu nhau Âm vang tiếng hát Anh trầm bổng Văng vẳng bên tai nghe ngọt ngào... Ghen cã bầy chim cất tiếng chào Nghe tiếng chim hót càng xôn xao Bay đi nơi khác mà vui hót Cứ đến chốn này mãi hót sao?? Rồi lại ghen thơ Anh đặt ra Thương nhớ Em hay nhớ người ta ? Ghen mãi cũng sợ Anh buồn lắm Cứ nghỉ lung tung tự khóc oà Dặn dò trong mơ cũng chỉ là Mơ về hình bóng mãi nơi xa Ninh Kiều luôn có người mong đợi Xin hãy thương Em thật thiết tha... Dạ Lan
Mục Lục


3. Một Làn Hương
Ừ, thì ra tôi vẫn nhớ mãi một làn hương Của mẫu đơn, của quỳnh hoa hay ngọc quế Hay giản dị chỉ màu tím hoa khế Hay mùi lá thư em đã viết cho tôi ? Ôi xin mây hãy sà xuống trên đồi Nghiêng ấp ủ một linh hồn cô độc Mùi hương xưa có về trong gió lốc Ðêm sao trời lấp lánh giữa vườn thơ Ta không sống mà hư tưởng mộng mơ Như chim bỏ tổ bay tìm hạnh phúc mới Rồi gãy cánh, tiếc thương yêu ? đã vời vợi Ta hão huyền tìm ai nơi cõi xa xôi ? Kỷ niệm vẫn đầy trong trái tim tôi Làn hương mỏng còn vương trên mái tóc Gót chân son còn in trên lối ngọc Sao vòng tay ôm nay chùng lỏng cút côi Lê Miên Khương Trời Ðất Ðổi Màu Thất Vọng Hóa Xanh Có thể nào em lại quên anh Sau khúc hát còn dư âm điệu nhạc Dẫu tình anh bây giờ đổi khác Trong em còn vang đọng khối tình Mộng điệp trùng vọng những lời kinh Hạnh phúc bay đi mùi hương ở lại Cuộc sống đơn sơ bên điều vĩ đại Ai cũng một lần lỡ dại người ơi ! Trong bóng tối em sẽ làm kiếp dơi Anh cứ đi và tìm hạnh phúc mới Người ấy đang trông anh và mong đợi Em, nụ cười cuối cũng bay ? theo anh Dẫu cuộc đời hối hả và mong manh Con tim em biết yêu thương biết ghét Chân lý vĩnh hằng, hỏa mù lừa phỉnh Xa anh mãi mãi ? là cứu cánh xanh ! Khi tất cả chấm dứt và lặng thinh Trời đất đổi màu, thất vọng hóa xanh Tương lai sẽ đẹp, lửa lòng lại cháy Tình yêu lại ? bấm chuông thỉnh gọi mình !

Lê Miên Khương

Mục Lục


4. Vang Vọng Trống Chiêng (Tưởng nhớ tiền nhân hy sinh giữ gìn biển đão qua lễ "Khao lề thế lính" lâu đời của ngư dân). Ðêm mưa ngâu, trăng lặn sâu đâu đó Bến thuyền xưa, mưa ướt sủng linh hồn Ngôi mộ trống...tiếng nhị cầm độc thoại Cay đắng đêm dài đáy cốc hận tuôn Ðường hoài hương, còn vấn vương vời vợi In giọt buồn, bên hơi thở tiền nhân Ngọn gió Ðông, cõng mây về bến đợi Ánh nắng Xuân loan... bóng tối tan dần... Mây phủ tóc thề - gió về ru muộn Vui đón cội nguồn tuôn lệ đoàn viên Người tỉnh giấc, nghe đất trời chuyển động Vang vọng trống đồng, lộng sắc cồng chiêng Trống xung trận trong gió ngàn lồng lộng Chim Yến bay về rợp bóng Hoàng Sa Cờ ngũ sắc... biển Ðông tung lướt sóng Cuốn sạch bóng thù - triền đá trổ hoa... Sông Cửu


Mục Lục


5. Giấc Nồng Thức dậy chưa em? Ðang giữa trưa hè Cơn gió đã trốn đi, tìm giấc ngủ Nên sức nóng tha hồ mà vui thú Tung hoành lên, phả xuống những oi nồng Ta chợt thèm, thèm quá một dòng sông Cả tuổi thơ , đã hồn nhiên ngụp lặn Giòng nước mát trong, như đang chờ sẵn Ôm gọn ta vào lòng , giữa những phù sa Ðã lâu lắm rồi vẫn tưởng mới hôm qua Tóc đã điểm sương, vẫn ngỡ mình còn trẻ Vẫn tưởng trái tim , còn ngập tràn lý lẽ Ðầy ắp yêu thương như thuở mới vào đời Ta bỗng thấy em đang nở nụ cười Trong giấc ngủ trưa hè mơ hoa phượng Ngọt ngào còn hơn trí ta tưởng tượng Em đã trôi về ký ức của ngày xanh Có phải ta từng ao ước rất mong manh Chỉ một lần thôi , quay lùi về tuổi dại Dẫu biết sẽ chẳng bao giờ gặp lại Sao vẫn còn ? ôm mãi bóng hình ai ./. Vân Hà Atlanta trưa hè 22/6/2017 Lời buổi sáng Tôi ngồi chờ nghe tiếng gọi của anh Tiếng phone reo và bức hình quen thuộc Thời đại văn minh, hiện ra như mơ ước Anh thật gần , tưởng bên cạnh mà thôi Hai vợ chồng , đang hai đứa hai nơi Lời xưa quen quen " ở hai đầu nỗi nhớ" Hơn hai mươi năm , xứ "Cuốn theo chiều gió" Cứ bâng khuâng cuốn tôi ngược trở về Ở bên này tôi lúc tỉnh lúc mê Lúc nhớ anh, nghe tim mình quay quắt Ngồi bên hiên nhà , lại thấy lòng se thắt Ở nơi này, kỷ niệm mãi còn đây Cám ơn nhiều , ông xã của duyên may Ðã hiểu lòng em , nặng tình cùng con trẻ Cho em về thăm, cùng bạn bè vui vẻ Vì thời gian , đang kéo đến tuổi già Em vẫn ngồi , chờ anh hết bôn ba Hết lo toan, hết đời thường bận rộn Ðến tuổi về hưu, mình sẽ đi khắp chốn Hai đứa bên nhau, tới tóc bạc da mồi. Atlanta Sáng 24/6/17 Vân Hà


Mục Lục


6. Hay Là ? Gửi Người-Nói-Mãi. * - Sao mà yểu điệu, dễ thương Người chi mà ngào ngạt hương! Bàn chân tui đi hổng đặng Cô như đóa hoa giữa đường. -Ông ơi! Ðừng cản đường tôi Bụng tôi đã đói meo rồi! Giờ này nồi cơm chưa nấu Lời ngọt mấy cũng? lôi thôi. - Tôi mời cô nghe? Bữa cơm Có những món ăn thật thơm Cô ngồi ăn thôi, khỏi nấu Cho tôỉ hầu đũa một hôm - Thật tình rất cám ơn ông Ðể tôi hỏi ý anh chồng Có chờ tôi hay nhịn đói? Haỷ ông mời ảnh luôn không? Á Nghi, 9.12.2002. ÐI THĂM Yêu Ai, anh phải đi thăm Yêu Em, đã đợi, bao năm sá gì? Bao nhiêu là khối tình si Họ mà được gặp, Hoả Quỳ cũng? bay! Giữa đường họ sẽ lăn quay Nửa điên, nửa tỉnh, quắt quay bên nàng. Á Nghi, Saigon 1978. THƯƠNG KHÓ Anh ghen, em bảo: -Tức cười! Em... cười, anh... tức một người-khó-thương! Em duyên, làm dáng lược gương Người Thương bên cạnh em nhường cho ai? Á Nghi, 5.8.2008. NGÂY THƠ Cụ khen: -Cô trẻ quá nha! Em ôm e thẹn, nở hoa nụ cười Lại khen: -Có nụ cười xinh! Một người vừả. khóc. Tội tình môi em! * Anh khen: -Yêu, lại xinh thêm! Em ngây thở nhận cho ? mềm hồn xuân. Á Nghi, 4.8.2008. EM VỀ -Em về, đem nhớ thương về Ở nhà anh có não nề nhớ thương? Em ra khỏi cửa, "Cá"... ươn Có ai ướp "muối" mà thương nhớ nè? -Em đừng lo Cá ươn nghe! Không cần ướp muối vẫn ngoài, trong tươi Chờ em, Cá chỉ chờ Người Trăm năm vẫn đợi, lo gì vài hôm Á Nghi, 5.8.2008. LẠI HỎI NHAU Em về, em hỏi anh này: -Em đi có nhớ những ngày xa nhau? Tự nhiên đôi mày anh chau: -Ði đâu? Lạ nhỉ? Hồi nào chẳng hay! Ai mà . . . hờ hững thế này? -Vô tình! Ðáng trách! Ai Này thật . . . hư? 2008. Á Nghi,


Mục Lục


7. Sương Khói Liêu Trai Có phải em về từ liêu trai... Tình còn uẩn ức vội hoài thai Hồn oan vất vưởng nương sương khói Ru giấc anh an cõi đọa đày. Ðêm tàn u tịch trời đông lạnh Ai sưởi lòng ai phút ấm nồng Người với ma dù phân hai cõi Cũng vẫn hai u hồn lạnh lùng. Ðêm đổ âm thầm tình đọng dài Mơ màng hư thực mộng liêu trai Ẻo lả anh ôm cơn nguyệt tận Xót xa em nép vội hương mai. Nợ trần không vướng bận lòng nhau Trăm năm ngưng đọng khối tư sầu Tình hờ thắm đậm trôi đời thật Kiếp xưa tụ nối kiếp nào sau Tình mỏng nên người tình mong manh Lời yêu câm lặng tỏa chân tình Hồn anh tạm biến vào sương khói Thân em mong quyện giấc mơ lành Lấp lửng duyên se vùi tuyệt đỉnh Ăm dương trời đất cũng phù vân. Chương Hà QUÊ TRONG NỖI NHỚ Nhịp cầu tre hòa tiếng võng đưa... Câu đưa em , lơi lả giọng hò Vọng trống đình, rót sầu vọng cổ Sáo vi vu thanh thoát đồi khuya Ôi nhớ thuở hồn nhiên tuổi dại Mái chèo khua nước giập be thuyền Trăng tỏ rạng tắm dòng sông bạc Ngộp ruộng sình hiu hắt gió ngang Chó sủa khan, hiệp gà gọi sáng Ếch uềnh oang, bìm bịp kêu chiều Miểu xanh rêu, trúc uốn liêu xiêu Thổ địa mẻ gốc đa lỏng chỏng Vét ao cạn trưa hè cháy bỏng Ruộng rì rào lúa trổ đòng đòng Rưng rức quê hương đậy sóng lòng Bão bùng hồn đêm thâu trắc trở Sương sủng ướt thòng dây cứt quạ Bình bát vàng giấu mỏ chim sâu Con kinh đục vòng ôm quốc lộ Lăn miệt mài lục tỉnh xe đò Thồ thổ mộ rẽ suông xóm rẫy Chở khẩm từng chất ngất hồn thơ Anh ở đó thương em nơi đó Thắm lòng nhau tình đất quê mùa

Chương Hà
Mục Lục


8. Ðò Ơi! Tôi Về Bến Xưa... Tôi gọi đò ơi! chẳng trả lời Sáng chiều trưa tối vẫn im hơi Tiếng kêu vọng giữa vùng sa mạc Như áng mây trời gió cuốn trôi. Ðại mạc hoang vu cát lộng bay Ðêm trường cô tịch ai nào hay Tương tư ai trái tim mềm nhũn Những buổi chiều buồn chén cúc say. Bão tố phím loan sóng nhấp nhô Hoàng hôn từng đợt nước triều xô Gió trong gan ruột vờn mưa lạnh Lại nhớ kêu ai, tựa gọi đò. Kỷ niệm trao nhau đẹp thuở xưa Dìu tay từng bước tránh cơn mưa Tình yêu đẹp mãi sân trường cũ Ngây ngất thư nồng thuở ấy đưa... Tôi vẫn chờ ai dưới rặng dừa Ðếm từng sợi nhớ buổi trời mưa Một lời ước hẹn lòng không đổi Tôi đợi ai về bến nước xưa... *

Tình Hoài Hương
Mục Lục


9. Gót Hài, Dấu Chân Kỷ Niệm 1- Hành âm thứ nhất Vòng tay xiết thân hình em uyển chuyển Nhạc Slow mềm phấn ngọt lịm hồn say Hỡi người yêu: yêu chỉ Ticket này Ta gọi đến để sầu quên một khắc. Người vũ nữ, những người tôi chỉ gặp Khi hồn tôi mang nặng khối u sầu Mượn thanh âm, hương sắc, ánh đèn màu Mượn gót ngọc hài em vào xứ lạ. Tình vũ nữ là tình yêu giả tạo Bởi vì yêu chân thực, chẳng hề tin Anh si mê dốc cạn chén ưu phiền Em vẫn cứ cho rằng anh nói dối. Tình vũ nữ là thứ tình đổi chủ Từng giai nhân biến hiện giữa vòng tay Ôi nét cười lơi lả, mắt điên say Anh chẳng dại để tin mình độc hữu. Vui khoảnh khắc mà lòng buồn vĩnh cửu Mối tình si chuốc vội chóng rời tay Nên yêu em, yêu chỉ Ticket này Anh trở lại niềm cô đơn khép kín. (ChinhNguyen/H.N.T. ,SG 1967) 2- Hành âm thứ hai Âm thanh tràn đầy cung bậc nhịp ba. Sóng nước xanh rập rờn trên nếp áo, cánh tay chèo níu chặt nửa bờ vai, giải Ngân hà kết bởi vạn chùm sao Confetti cài lên mái tóc. Khung trời thu tròn trong vòng mắt, ánh hoa đăng là ánh sáng của tinh cầu. Từng đôi một con thuyền thon nhỏ dìu nhau lướt đi, gót hài in vết giòng Danube. (ChinhNguyen/H.N.T.,SG 1964_Trích truyện Giải Pháp/nhật báo Ngày Nay) 3-Bóng người năm ấy Ngày ấy đôi mình vai sánh vai, Tay đan quấn quít bước lên đài. Chơi vơi sóng nhạc trào luân vũ, Lả lướt giòng sông gợn dấu hài. Ánh mắt mơ màng: duyên kết tụ, Con tim thao thức: mộng tàn phai. Trùng dương ngăn cách tình năm cũ, Kỷ niệm còn in đậm bóng ai. (ChinhNguyen/H.N.T.,USA 2012_Hoạ: Hình bóng người xưa/LKC) ChinhNguyen/H.N.T.

Mục Lục


10. Trách Tôi trách sao chiều nay mưa mau, Ðể phố kia giăng mắc giọt sầu, Người tôi yêu về trong hiu quạnh, Trời còn mưa, mưa thêm bao lâu? Khi anh về một mình phố nhỏ, Giọt mưa nào thấm lạnh trên vai? Tôi muốn dù chỉ là đốm lửa, Sưởi ấm cho người trong phút giây. Tôi trách sao chiều nay mưa rơi, Ðể tôi thấy ướt chỉ một người, Làm sao che khuất trời mưa gió? Làm sao cho đời bớt lẻ loi? Khi anh về một mình phố hẹp, Mưa than van giọt ngắn giọt dài, Anh có buồn chập chùng khói thuốc? Anh sẽ mơ gì trong đêm nay? Xin mai mưa tạnh, mai mưa tạnh, Ðể nơi ấy anh về nắng lên, Anh sẽ không về trong hiu quạnh, Có nắng soi đôi mắt thật hiền. Nguyễn thị Thanh Dương ÐÀ LẠT ƠI, TÌNH ƠI ? Ðà Lạt có những con đường sắc vàng, Của hoa Dã Qùy chạy dài lang thang, Em đạp xe qua buổi chiều se lạnh, Em mặc áo dài, em khoác áo len. Em đi trên con đường đất khô bùn, Vẫn hoa Dã Qùy mọc đầy hai bên, Về con đường khác có hoa Cúc trắng, Hoa khắp nẻo đường cho người bâng khuâng. Mỗi góc Ðà Lạt là một góc hoa, Hoa mọc trong rừng, hoa trong vườn nhà, Hoa trên hè phố, giòng đời chậm lại, Phượng Tím đẹp buồn ai nỡ bước qua? Ðôi bóng kề vai bên Hồ Xuân Hương, Buổi sáng quanh hồ vắng đến lạ thường, Em ngồi trong quán ly cà phê ấm, Mà hồn em còn lãng đãng mù sương. Con đường quanh co thấp thoáng rừng thông, Cành cây che một khỏang trời mênh mông, Vài cô sơn nữ trên đường xuống núi, Ðường đi còn dài, gùi mang trên lưng. Triền đồi cỏ xanh, trên trời mây bay, Ðàn bò gặm cỏ thong dong tháng ngày, Không một bóng người dường như quên lãng, Vẫn có một nơi êm đềm.thế này. Nhà dưới đường thấp chìm trong hàng cây, Nhà trên đường cao chìm vào trong mây, Mái những ngôi nhà màu nâu, màu đỏ, Mảnh vườn trước sân hoa cỏ nở đầy. Em ra phố chợ đỏ mùa dâu tươi, Thèm ăn qủa dâu chua ngọt trên môi, Thèm củ khoai lang nướng trên than nóng, Khoai lang Ðà Lạt ngọt như tình yêu. Ðà Lạt nên thơ, Ðà Lạt sắc màu, Ai đến một lần chẳng dễ quên đâu, Người ơi, tình ơi, về đây hò hẹn, Gió lạnh, sương mù nên cần có nhau. Nguyễn Thị Thanh Dương BIỂN VÀ SÓNG. Có phải khi biển vui thì biển sóng? Sóng tung mình những hạt nước trong veo, Khoe trên đầu ngọn sóng có em theo Từng hạt nước và tưởng mình là sóng. Em đã nở trăm đóa hoa cánh mỏng, Vừa hiện ra những cảnh sắc nên thơ, Em lại vội đi như một giấc mơ, Em rực rỡ cũng chìm vào biển lớn. Có phải khi biển vui thì biển sóng? Vươn lên cao những cột sóng thủy tinh, Thướt tha như vạt áo tuổi thanh xuân, Sóng và chân trời một màu trắng xóa. Sóng buông mình thủy tinh rơi vụn vỡ, Những niềm vui ngắn ngủi đã qua mau, Sóng hôm qua ai biết đã về đâu? Chẳng bao giờ sóng đứng yên chờ đợi. Biển biết vui, biển cũng từng hờn dỗi, Sóng buổi chiều nhuốm vàng nhạt tà dương, Giữa biển khơi em là ngọn sóng buồn, Hát bài tình ca ngậm ngùi thương nhớ. Sóng khóac cho mình một màu ráng đỏ, Khi mặt trời sắp lặn xuống biển xa, Sóng hắt lên những giọt lệ nhạt nhòa, Em khóc mãi cho biển đầy thêm nữa. Và có khi biển chuyển mình giận dữ, Sóng hung hăng kiêu ngạo đến lạ kỳ, Em không muốn là ngọn sóng chia ly, Ðể anh thất tình trên bờ biển vắng. Sóng ngất ngưỡng từng bước chân chuyển động, Sóng cuộn mình rồi vội vã lăn xa, Nước biển tươi xanh bỗng hóa thành gìa, Sóng bạc đầu vì đời người qúa ngắn. Em và anh, nếu là biển và sóng, Em xin được là những ngọn sóng ngoan, Sóng vỗ về anh, tan biến vào anh, Vào biển cả một tình yêu bất tận.
Nguyễn Thị Thanh Dương





Mục Lục


11. Qua Rồi Ngày Vui Một hôm cuối đông em trở về Mang theo giọt nước mắt não nề Từng bước trên đường quê lặng lẽ Buồn theo năm tháng đã xa xôi Một hôm thấy nắng xuân bên hè Em đứng trông lại ngôi trường cũ Vẫn thấy hàng me xanh ủ rũ Từng chiếc lá theo gió cuốn trôi Sài gòn ơi, ta vẫn còn nhớ Sài gòn ơi, chuyện tình không quên Sài gòn ơi, bên dòng sông cũ Một ngày cuối cùng xa vắng em Một hôm cuối đông em giã từ Chia tay đêm nay buồn biết mấy Cuộc vui mùa xuân cũng vừa dứt Ngày dài nỗi nhớ vẫn đeo mang ... ÐÔNG HÒA Nguyễn Chí Hiệp 13.7.2017 KIẾP NGƯỜI ÐAU KHỔ (thuận nghịch độc) Ngày tháng với người níu khổ đau Ảo mê vùng trắng phủ sương đầu Ai chờ mộng cũ tình mê đắm Bến lạc thuyền trôi sóng bể dâu Dài ngắn kiếp đời buồn vẫn số Mỏi mòn chân bước đợi qua cầu Tay cầm gậy thả quanh đường dốc Ngày tháng vẫn người níu khổ đau ÐÔNG HÒA Nguyễn Chí Hiệp 11.7.2017 VƯƠNG VẤN TÌNH XƯA (thuận nghịch độc) Nguồn suối vọng chờ hạ với em Ðắm mê vùng trắng phủ bên thềm Hương say mộng cũ nơi tìm đến Giấc loạn hồn hoang cảnh nhớ quên Ðường cuối nhạt mờ sương khói tỏa Lối sau thầm lặng gió mây êm Thương hoài phút đợi đêm trầm mặc Vương vấn nỗi lòng đau đớn thêm ÐÔNG HÒA Nguyễn Chí Hiệp 11.7.2017 LƯU LUYẾN NGÀY HÈ (thuận nghịch độc) Mưa phố cảnh hè với tháng năm Mỏi mòn chân bước lạc dương trần Xưa buồn lệ ái tình dang dở Muộn nhớ ngày nào hôm viếng thăm Ðưa đẩy gió bay hoa bướm phượng Ðến về nơi trước dốc mơ thầm Thưa mờ dấu cũ trường hoang vắng Mưa phố cảnh hè gọi tháng năm ÐÔNG HÒA Nguyễn Chí Hiệp 10.7.2017 SẦU ÐÊM VỀ PHỐ (thuận nghịch độc) Ðêm phố ngõ về khách đợi ai Liễu ru trăng khuyết ẩn lầu tây Thềm bên phượng đỏ hoa tàn úa Bậc dưới rêu xanh đá ngủ say Thêm nhớ vọng xưa hồn cảm oán Lặng buồn nghe đắng lệ thương hoài Bềnh bồng sợi trắng sương pha tóc Êm khẽ giọt sầu chợt ướt tay ÐÔNG HÒA Nguyễn Chí Hiệp 10.7.2017 CÁT BIỂN TÌNH XƯA Cát biển chiều hạ vàng Lang thang qua trời rộng Lời thì thầm tiếng sóng Gọi tên, gọi tên em Cát biển êm giọng hát Em cất lên giữa đời Gọi tên người yêu dấu Ðam mê giấc ngủ vùi Ta lắng nghe, lắng nghe Thả rơi hạt nước mắt Khóc vì em ngày lặng Cho vơi nỗi buồn phiền Cát biển vỗ về đêm Êm êm như giọng hát Ru em lời chân thật Trong cõi nhớ thiên thai .. ÐÔNG HÒA Nguyễn Chí Hiệp 9.7.2017 ÐÊM HUẾ (thuận nghịch độc) Mưa ướt phố về ngõ vắng thêm Ðợi chờ rồi nhớ chợt rồi quên Ðùa chân bước khẽ quanh sau dốc Tỏa trắng mây khuya lặng cuối thềm Chưa đến hỏi người ơi tiếng vọng Thoảng xa nghe gió gọi lời êm Thưa mờ bóng liễu trăng vàng rũ Xưa vẫn cảnh buồn phố Huế đêm Ðêm Huế phố buồn cảnh vẫn xưa Rũ vàng trăng liễu bóng mờ thưa Êm lời gọi gió nghe xa thoảng Vọng tiếng ơi người hỏi đến chưa Thềm cuối lặng khuya mây trắng tỏa Dốc sau quanh khẽ bước chân đùa Quên rồi chợt nhớ rồi chờ đợi Thêm vắng ngõ về phố ướt mưa ÐÔNG HÒA Nguyễn Chí Hiệp 08.7.2017 HẠ THƯƠNG Em qua phố cũ giữa ngày hè Lắng nghe tiếng thời gian lặng lẽ Như tiếng nhạc một thời áo trắng Dưới mái trường của tuổi học trò Em qua ngõ xưa giữa ngày mới Từng cánh phượng rơi theo gió buông Má hồng ơi, nụ hôn ngày ly biệt Còn không in dấu hạt lệ buồn Bây giờ xa quá phải không em Bây giờ tóc trắng xóa vai mềm Ngày trôi mãi sao đời dừng lại Ôi, dáng hình xưa chẳng thể quên .... Em ngủ yên một tối trăng rằm Và sẽ ru với tiếng hát âm trầm Thật khẽ lời ước ao như đã Ta bên nhau hạnh phúc trăm năm Ðông Hòa Nguyễn Chí Hiệp 7.2017 ÐỢI CHỜ Một hôm bỗng thấy hạ về đây Thôi áo trắng cổng trường chiều nay Hoa phượng rơi đầy trên lối cỏ Buồn ơi, có phải rằng đã say Một hôm quên gót chân tháng ngày Cúi đầu thả hồn theo gió mây Khung trời mộng năm nào đâu hỡi Vì sao ta vẫn nhớ thương hoài Giọt nước mắt rơi bao nỗi niềm Từng bước đi mơ với dáng em Trông ngóng cuối đường về lưu luyến Người nơi đâu trong cõi buồn phiền Một thoáng bên dòng sông tuổi nhỏ Vàng đưa hoa điên điển quanh bờ Hạt nắng soi lòng như muốn nói Tình ơi, ta vẫn mãi đợi chờ Ðông Hòa Nguyễn Chí Hiệp 7.2017 CUỐI CÙNG ÐÊM ÐÃ PHAI Cuối cùng màn đêm cũng đã phai Ta ngồi đây bên hàng đá nhỏ Phía trời đông mặt trời mở ngõ Nửa vầng dương soi bóng rừng cây Cuối cùng ngày xưa vẫn nơi đây Ta gặp em mùa đông lạnh giá Ôm ấp vòng tay thôi xa lạ Nụ hôn thầm vương vấn bờ môi Ngày tháng trôi qua như lặng câm Em hóa thiên thần đêm vô vọng Em gửi linh hồn trong nước mắt Trong tiếng đàn lời hát than van Cuối cùng sợi tóc trắng mơ màng Ðan tay cuốn dài một mới rối Buồn từ nơi đâu về tiếp nối Lênh đênh những giọt lệ cô đơn.... 17.7.217

Ðông Hòa Nguyễn Chí Hiệp
Mục Lục


12. Nửa Ðời Lưu Lạc Ðời lưu lạc xanh rêu tuổi nhớ Nợ oằn vai một thuở yêu người Tháng ngày qua chồng chất tuổi đời Ngoảnh nhìn lại thời gian mau quá . Giờ đây em một nửa góc buồn Anh bên này ôm nỗi nhớ thương Như tản đá bơ vơ bên đường Bờ cỏ dại ôm anh thương mến. Bao niềm vui trông hoài không đến Buồn không mong vẫn đến anh hoài Ngày qua ngày như khói mây bay Nghe vụn vỡ nửa đời lưu lạc. Nhiều đêm về nghe xa tiếng hạc Bay lưng trời đơn độc kêu sương Nghĩ đến em, vạn nỗi nhớ thương Lòng chùn xuống đêm buồn không ngủ. Màn đêm về bao phủ đời anh Vì số phận, thôi đành cam chịu Nửa đời rồi mặc kệ hư hao Rồi mai này cũng về cát bụi. Nếu yêu anh, xin em an ủi Ðôi lời thôi anh cũng vui lên Ðời lưu lạc rày đây mai đó Nửa đời này anh chỉ yêu em ! Song An Châu
Mục Lục


13. Ở Nơi Ðó ! Ở nơi đó tôi ra đời Có dòng sông xanh biên biếc Rặng dừa vương gió lả lơi Tiếng mẹ ru hời tha thiết! Ở nơi đó ngôi trường nhỏ Tôi học chữ i chữ tờ Và đã qua thời tuổi dại Bạn bè vui những ngày thơ! Ở nơi đó có cô thầy Tận tụy cùng trò tháng năm Giúp tôi sáng lòng sáng dạ Hiểu rành hai tiếng Việt Nam. Ở nơi đó tôi biết yêu Cảnh êm đềm khi nắng xiêu Trên dòng kinh thuyền xuôi nước Thật thơ mộng những buổi chiều! Một ngày rời xa nơi đó Niềm thương nỗi nhớ ngập lòng Bỏ lại quê nhà xóm nhỏ Có mẹ già mãi đợi mong! Ở nơi đó trên bến chiều Ai chờ trong cảnh tịch liêu Tóc sầu bay theo cơn gió Lòng thương nhớ bíết bao nhiêụ! Ở nơi đó trăng đã úa Ánh mờ không tỏ đường về Nên tôi cón xa xôi mãi Hồn thao thức nỗi tình quê Bây giờ nhớ thương nơi đó Ðâu rồi bến nước dòng sông Mẹ già người yêu biền biệt Hồn sầu rưng lệ lưu vong! 29-6-2017 Hàn Thiên Lương Mục Lục


14. Tha Hương Tâm Sự Nhớ da diết chuổi ngày xưa thân ái Cùng bạn bè lêu lỏng chạy rong chơi Ði trộm khoai về nhóm lửa nướng lùi Chia nhau hết những niềm vui đã hái Giờ lây lất nơi phương trời hải ngoại Thấy nỗi buồn đang rụng giữa đời xa Nhìn lại lòng không còn chút thiết tha Ðời bay lạc giữa muôn trùng đêm tối Những mùa đông tuyết ngập tràn cả lối Lạnh buốt hồn nghe cảm giác hoang sơ Như giọt chiều quạnh vắng nỗi niềm xa Ðang rơi rớt như đêm mưa ngày nắng Buổi xuân về nghe cõi lòng trống vắng Trên bàn thờ không bánh tét bánh chưng Lắm lúc buồn nước mắt cũng rưng rưng Nhìn quê mẹ đã ngút ngàn sương khói Sống bên Tây có ?bánh mì chống đóỉ Nhưng vẫn thèm ?tô cơm nguội cá khỏ Món ngày xưa mẹ ?thường gói trong mỏ Con đi học đeo bên mình cho tiện Nhưng giờ đây đã xa rồi kỷ niệm Biết lấy gì để hong lại tình xa ? Nên cũng đành mượn ngôn ngữ thi ca Dùng tâm sự như một lời nguyện cuối Mong mai sau đến ngày chim cánh mỏi Ðược bay về thăm lại chốn quê hương Cho nỗi niềm vơi bớt những nguồn cơn Ðang lảo đảo theo bước đời vong lữ ! Trần Ðan Hà
Mục Lục


II . Văn___________________________________________________________

1. Việt Kiều


Nguyễn Thị Thanh Dương






Buông phone xuống là anh Tư Chuột đi kiểm tra lại ngân quỹ đen của mình, được 300 đủ để gởi về Việt Nam cho má, trong quỹ đen của anh bao giờ cũng có cỡ này là bên Việt Nam lại có lý do để xin tiền.

Má anh vừa gọi sang, trước là vài câu thăm hỏi, sau là để xin ít tiền đặng má đi bác sĩ coi tim mạch má ra sao, lúc này má hay làm mệt qúa con ơi, má ăn không ngon, ngủ không yên.

Dù bất cứ lý do gì anh cũng không bao giờ từ chối má, huống gì vì lý do sức khoẻ của má. Bởi vậy anh thật là có lý kể từ khi nghĩ ra cái quỹ đen này, lâu lâu tom tóp được ít tiền để giải quyết đột xuất những nhu cầu của thân nhân ở Việt Nam.

Anh chỉ còn có hai người thân yêu nhất là mẹ và cô em gái, mỗi năm anh gởi hai lần tiền về cho mẹ và em, gọi là nuôi mẹ, phụ em chút đỉnh trong cuộc sống cho xứng danh là một người anh đang sống ở nước Mỹ giàu có văn minh. Tiêu chuẩn như thế nhưng má anh không chịu hiểu cho, thỉnh thoảng bà lại xin đột xuất, nay lí do này mai lí do khác, toàn là những lý do chỉ có tiền mới giải quyết nổi, mỗi lần thế, vợ anh mặt sưng mày xỉa một đống:

- Ai nhận được thư bên Việt nam thì mừng chứ tôi rầu thấy bà, nhà này đâu phải nhà băng đâu mà giải quyết được mọi thứ.

Anh Tư Chuột nín khe, không biết đường nào mà binh mà đỡ, gia cảnh nhà anh, anh biết quá, hai vợ chồng anh làm lương công nhân, lấy nhau 3 năm trời mà chưa dám có baby, ráng đi làm dành dụm khi nào down được cái nhà mới mang bầu.

Từ khi có quỹ đen, vợ anh không có lý do gì để sưng xỉa nữa. Quỹ đen của anh thì cũng từ trong nhà mà ra chứ có khoản nào khác đâu, anh bớt tiền bia rượu thuốc lá và "ăn gian" vợ, tăng lên vài đồng mỗi lần đổ xăng vào xe, bội thu lớn nhất của anh là khi sửa xe, cho nên xe hư, một mặt anh lo sợ thật sự, một mặt anh mừng rơn, anh mang xe tới shop của người Việt Nam, giá cả rẻ hơn shop Mỹ, anh nói chủ shop viết biên nhận tăng lên cả trăm đồng so với giá thực tế anh phải trả, thế là anh có thêm một khoản tiền dư cho vào quỹ đen.

Anh còn phục tài thông minh của anh biết sáng tác ra cái đề tài đi Birthday người này người nọ, toàn là bạn cùng hãng, người Mễ, người Mỹ nên vợ anh chẳng biết tên, biết mặt họ là ai, vợ chi cho anh ít tiền để mua quà, anh biến khỏi nhà đi đâu đó vài tiếng và coi như đã dự xong một bữa tiệc.

Từ khi có quỹ đen, mỗi lần má gọi sang xin tiền là anh OK liền, một cách vui vẻ, chắc má anh đã tưởng tượng vài trăm đô chỉ là món tiền lẻ anh luôn có sẵn trong túi móc ra lúc nào cũng được.

Anh có một buổi sáng rộng rãi ở nhà, vợ anh làm khác hãng, khác ca, nên những cú phone của má anh đều biết điều xuất hiện vào buổi sáng. Anh chỉ việc lái xe ra khu chợ Việt Nam, đến dịch vụ gởi tiền, viết cái rụp vài dòng nhắn tin miễn phí và điền phiếu gởi tiền thế là xong, vài ngày sau tiền từ túi anh sẽ bay về Việt Nam vào túi má.

Mấy dịch vụ gởi tiền này cũng tâm lý hết mình, trong phiếu gởi tiền có ghi rõ muốn nhận hồi báo bằng thư gởi đến nhà hay đến tiệm lấy, chắc họ tiếp nhiều khách hàng chuyên đi gởi tiền ?lén lút? về Việt Nam như anh, kẻ dấu vợ, người dấu chồng, người dấu con, dấu cháủ.ôi thôi, mỗi người mỗi cảnh, mỗi cây mỗi hoa, cuộc đời muôn mặt.

Anh Tư Chuột thay đồ, không quên bỏ 300 đồng vào túi rồi lái xe đến dịch vụ gởi tiền, hôm nay trời đẹp thật, nắng và gió phơi phới như lòng anh, Này nhé, có tiền gởi cho má, làm vừa lòng má, mà vợ không biết, không phải nghe cằn nhằn, không phải năn nỉ ỉ ôi vợ thì ai mà không vui ?

Anh hiên ngang đẩy cửa tiệm bước vào, tuy hiên ngang phơi phới thế, nhưng anh vẫn cảnh giác quét ánh mắt nhìn tứ phía xem có ai quen không, tai vách mạch rừng mà, người quen mà biết thì trước sau gì vợ anh cũng biết, ánh mắt của anh đụng phải một ánh mắt cũng đang quẹt ngang quẹt dọc như anh, đó là một anh bạn cũ, làm cùng hãng trước kia, anh ta cũng đi gởi tiền một mình, cũng mắt láo liên, vậy là có vấn đề ?mờ ám?.

Chắc anh kia cũng nghĩ thế, nên sau cái mỉm cười đầy vẻ cảm thông, nhận ra nhau rồi thôi, việc ai nấy làm, để còn rút lui cho lẹ.

Ba ngày sau là ngày ra dịch vụ gởi tiền nhận giấy hồi báo, trước khi đi, anh gọi phone về Việt Nam, 9 giờ sáng bên Mỹ là 9 giờ tối bên Việt Nam, nhưng má anh không có nhà, cô em gái bốc phone, cô nói má nhận được 300 đô rồi, anh hỏi thăm bệnh tình tim mạch má thế nào, đi bác sĩ chưa thì cô em chưng hửng má có bệnh tim bệnh phổi gì đâu, má vẫn ăn ngon vẫn ngủ tốt chỉ trừ đêm nào đánh bài tới khuya. Ngày nào má cũng đi sang lối xóm đánh bài hết anh ơi, má mê cờ bạc từ lâu rồi, em không dám kể sợ anh buồn, sợ má la, nay thấy anh gởi tiền về cho má, lo lắng cho má, em thấy tội anh quá nên phải nói ra sự thật.

Anh Tư Chuột gọi xong cú phone về Việt Nam lòng anh cụt hứng, buồn tênh, bao nhiêu sự hi sinh, góp nhặt của anh gởi về cho má để rồi như bèo dạt mây trôi, chứ có lợi ích thiết thực gì đâu!

Xưa, má anh nghèo, ăn nói rất khiêm tốn dè dặt, giờ đây có đồng tiền của anh gởi về đã biến bà thành một con người khác. Cách đây vài năm, khi anh còn độc thân, mỗi lần nói chuyện phone với má, bà đều rủ rỉ con muốn lấy vợ chưa má nhắm con gái bà chủ tiệm vàng ở đầu chợ, má nói một tiếng là xong. Anh đã ngạc nhiên gì mà dễ vậy má, người ta là con nhà giàu mà. Má anh cười đắc ý con khờ quá vậy, hồi xưa thì con nghèo thật, má phải làm thuê, làm mướn, bây giờ con có thua kém gì ai, Việt kiều chứ bộ, lấy ai mà chẳng được. Dưới mắt má anh, chỉ hai từ "Việt kiều" là đủ sang, đủ giàu để về Việt Nam muốn gì được nấy rồi.

Anh Tư Chuột nhớ hồi xưa, cái tiệm vàng ngay đầu chợ, lộng lẫy và sang trọng lắm, mấy thuở anh có dịp bước chân vào đó để mà mua bán vàng, dù chỉ là vài phân, nói chi tới chuyện cưới con gái người ta.

Má anh đã khẳng định mỗi lần con gởi tiền đô về má đều tới đó đổi ra tiền Việt hay mua vàng, bà chủ đều vui vẻ hỏi thăm con đó, chắc là bà muốn chấm con cho cô con gái rồi. Anh thấy má anh chủ quan quá, chỉ vâng dạ cho xong, vì lúc đó anh đang có người yêu ở Mỹ, là vợ anh bây giờ.

Buồn thì buồn anh cũng lái xe đến dịch vụ để nhận tờ giấy hồi báo cho xong thủ tục, kẻo họ gởi về nhà thì nguy.

Khi anh đẩy cửa kính bước vào, anh buồn đến nỗi chẳng thèm cảnh giác ngó ngang ngó dọc gì hết, chỉ nhìn thẳng mà anh bỗng kinh hồn khiếp vía khi thấy một bóng dáng quen thuộc đến nỗi chỉ nhìn sau lưng anh cũng biết chắc đó là vợ anh, đang lúi húi đứng bên quầy gởi tiền.

Anh phản ứng rất lẹ, quay ra, nhưng chân anh mới nhúc nhích thì bà chủ tiệm từ phía trong quầy còn phản ứng lẹ hơn, bà nhìn thấy anh, bèn cười, nụ cười xã giao của những người làm thương mại ban phát rộng rãi cho tất cả mọi khách hàng:.

- Anh Tư Chuột đợi đấy, có giấy hồi báo nhận tiền bên Việt Nam rồi nè.

Chưa bao giờ anh thấy có một người nào vô duyên và đáng ghét như bà chủ tiệm lúc này, anh nhìn bà ta bằng ánh mắt đau khổ lẫn hận thù, nhưng vẫn phải nhếch môi cười và đứng chôn chân tại chỗ. Lúc đó vợ anh quay đầu lại, bốn mắt nhìn nhau.

Ngày xưa, hồi mới quen, bốn mắt nhìn nhau đầy hoa mộng, còn giờ phút này đầy ác mộng!

Bà chủ vẫn phơi phới cười nói tưởng rằng ta đây là một người làm business tuyệt vời, luôn làm vui lòng khách đến vừa lòng khách đi:

- Ðấy nhé, chúng tôi làm ăn đầy tín nhiệm nhé, những lần trước anh gởi chỉ 3 ngày về đến Việt Nam, lần này cũng thế, trước sau như một.

Trời ơi, nếu mà anh có thể xông lên bịt mồm bà chủ được, thì anh đã làm rồi.

Vợ anh mặt lạnh bước ra khỏi tiệm, đi qua mặt anh không nói một câu gì. Bà chủ tiệm trao anh tờ giấy hồi báo và tiếp tục nụ cười thương mại:

- Lần sau anh Tư Chuột nhớ đến tiệm chúng tôi nhé!

Anh rủa thầm trong lòng: "Vĩnh biệt bà! Ðây là lần cuối cùng"

Anh Tư Chuột lái xe về nhà, không hiểu vợ anh giờ này đang ở đâu? anh nằm dài ra ghế sofa để chờ vợ, sẵn sàng đón nhận một cơn bão tố.

Nằm ngẩm nghĩ, anh chợt tự hỏi sao sáng nay vợ không đi làm? Cô ấy đi gởi tiền cho ai? Hay cô ấy cũng đang chơi trò gởi tiền về Việt Nam "lén lút" qua mặt anh? Anh bỗng cảm thấy đỡ lo, trong vụ này vợ vừa là đối thủ vừa là đồng minh của anh.

Rồi vợ anh cũng về tới, chắc phải nhịn nói ở chỗ gởi tiền nên bây giờ vợ anh tuôn ra xối xả:

- Sao, anh từng lén tôi đi gởi tiền về Việt Nam bao nhiêu lần rồi? mà gởi cho ai? hả? hả? Xời ơi, thì ra bấy lâu anh ăn bớt, ăn gian, anh dối gạt tôi để tích cóp tiền phải không?

Anh bắn trả lại đối phương một viên đạn như nó vừa bắn anh:

- Còn cô, đi gởi tiền cho ai? Bao nhiêu lần rồi làm sao tôi biết được? tiền nào cũng là tiền trong cái nhà này thôi, bây giờ tôi mới hiểu vì sao cô cho tôi ăn cơm với thịt gà triền miên, thịt gà rẻ hơn thịt heo thịt bò, rẻ hơn tôm cá mà. Phim chuyện dài nhiều tập nào cũng có đoạn kết, chuyện ăn cơm thịt gà ở nhà mình thì không. Bằng cớ là hôm qua và hôm nay cũng vẫn ăn cơm với thịt gà, có khi lại là gà "on sale" rẻ như bèo nữa đấy.

Vợ anh cũng thông minh lắm, cô phát giác ra ngay:

- Tôi cũng đã hiểu ra rồi, tại sao nhà có hai cái xe, mua cùng lúc, cùng tuổi, cùng đời, xe của tôi thì hư ít, còn xe anh thì cứ hư dài dài, mỗi lần sửa bạc trăm ngon lành và tôi cũng không tin vào cái khoản đi Birthday bạn bè cùng hãng của anh nữa, vì các đám giỗ tiệc của bà con họ hàng anh còn lười không muốn đi mà.

- Thế còn chuyện cô thường xuyên đi shopping thì sao? Hừm! biết đâu cô mua cái váy cái áo clearance cộng thêm 75% off chừng 10 đồng bạc, về cô khoe tôi là 100 ngon lành.

Vợ anh bí không chống đỡ được gì nữa, cô vừa khóc vừa gào:

- Bởi vậy mấy năm nay có thấy dư đồng nào đâu, chừng nào mới down được nhà? chừng nào mới có con hở trời?

Rồi vợ vô phòng nằm trùm mền, Anh Tư Chuột nằm ở ghế thở dài, nghĩ đi nghĩ lại cả hai vợ chồng đều có lỗi, anh phải giải quyết cho xong để còn thanh thản mà đi làm, anh bước vô phòng, giọng ngọt ngào:

- Thôi em, mở mền ra nghe anh nói đâỷ

Có lẽ cô ấy cũng cùng một ý nghĩ như anh nên cô tung mền ra, vùng vằng:

- Rồi đó, nói gì thì nói đỉ

Anh Tư Chuột ngồi xuống bên vợ nói như tâm sự:

- Thật tình những điều em nói rất đúng, anh đã ăn gian, ăn bớt để có tiền gởi thêm về cho má, ngoài phần mình gởi định kỳ, thỉnh thoảng má vẫn xin thêm nên anh phải làm như thế, người con nào chẳng thương mẹ, muốn làm mẹ vui lòng phải không em? mong em hiểu cho anh?

Vợ anh động lòng, xụt xịt:

- Em cũng thế, má em cũng đòi hỏi thêm, vì má chiều thằng em của em, nào mua cho nó xe mới, quần áo thời trang này nọ, nó ỷ có em bên Mỹ chi tiền về nên ăn xài xả láng. Má thương nó quá nên cái gì cũng chiều, má còn so sánh cho em biết con gái bà hàng xóm hồi ở nhà đi gánh nước mướn quanh năm suốt tháng, vậy mà qua Mỹ làm chủ tiệm nail, bây giờ gởi tiền về xây nhà lầu mấy từng. Nghe thế em cũng tự ái, con nhỏ đó chuyên môn gánh nước cho nhà em chứ có tài cán gì đâu, nó xây được nhà cửa cho cha mẹ, không lẽ em không gởi được chút tiền về lo cho thằng em út được sung sướng, được bằng người ta sao?

- Ai chẳng muốn mang lại niềm vui cho người thân của mình, nhưng phải hợp tình hợp lý theo hoàn cảnh mỗi người, mình không thể chạy theo người ta được. Phải tính lại chuyện này em ơi, để má anh má em hiểu ra hai chữ ?việt kiềủ không lộng lẫy giàu sang như họ nghĩ đâu. Anh mới được biết những đồng tiền anh gởi về là để giúp má ?đi đánh bài tối ngày, còn những đồng tiền của em gởi về biết đâu chỉ làm thằng em ăn chơi, hư hỏng thêm? Trong khi bên Mỹ này vợ chồng mình làm ăn vất vả để kiếm tiền, mua món gì on sale tiết kiệm được một vài đồng cũng mừng.

Vợ anh đồng tình:

- Anh nói cũng phải, đây đâu là thiên đường, đồng đô la đâu tự nhiên nhảy vô túi mình, cớ sao những người thân của mình cứ nhắm vào mình mà mơ ước? mà đòi hỏi nọ kia?

- Cũng một phần lỗi tại mình, vì thương yêu người thân, vì lòng tự kiêu, tự ái, chẳng lẽ mang tiếng sống ở Mỹ mà không giúp được cho người thân? Còn bao nhiêu trường hợp khác nữa, có người thì ba hoa, khoe khoang chuyện trên trời dưới đất làm như kiếm tiền dễ như nhặt lá vàng rơi nên bên Việt Nam mới hiểu lầm.

- Hèn gì người ta nói Việt kiều về thăm quê hương khi trở lại Mỹ chỉ còn bộ quần áo dính trên người, cái món cuối cùng không thể lột ra cho được thôi.

- Chúng mình nghe hà rầm chuyện Việt kiều rồi đó, trừ những người thành công, có tiền có của, nhiều người ở bên này làm đủ các nghề lao động với đồng lương rẻ mạt, hay làm baby sit, làm bồi bàn trông mong từng đồng tiền tip, về Viêt Nam õng ẹo, ra vẻ quý phái làm như chưa biết khổ cực là gì.

- Má kể con nhỏ gánh nước mướn ngày xưa ở xóm em, mỗi lần về là cả xóm vui lây, nó cho quà khắp xóm, các bác xích lô đạp lúc nào cũng túc trực ngoài cửa, đợi cô Việt kiều ra, chỉ để chở cô ra chợ ăn vặt hay mua trái cây, cứ một cuốc xe chưa đầy 10 phút, cô trả 10 đô ngon lành, nên các bác xích lô cứ bu đầy sân hi vọng mình trúng mối. Anh thấy chưa, hồi xưa nó gánh hai thùng nước đè nặng trên vai, chạy te te, mà bây giờ chỉ một đoạn đường từ nhà ra đầu chợ cũng phải lên xe xuống xe.

- Việt kiều có uy lắm em, vợ thằng bạn anh ở bên này mà làm tổng chỉ huy bên Việt Nam đó, vợ chồng nó giàu, gởi tiền về cho cha mẹ anh em khá nhiều, nên nói gì bên ấy cũng nghe theo răm rắp.

- Ôi thôi, có những Việt kiều nói ra nghe mà cảm động, phải về Việt Nam thăm ông bà cha mẹ cho tròn chữ hiếu. Nhưng gần gũi thân nhân thì ít, ăn chơi, bia ôm, hàng quán thì nhiều.

- Cái danh Việt kiều cũng làm người ta chết dở, một chuyến về Việt Nam làm người ta sạt nghiệp luôn, thôi thì họ hàng bên chồng, bên vợ, bên nội, bên ngoại, rồi bạn bè gần xả.Chỉ có một đường lối xã giao cho tất cả mọi người đó là chi tiền, chi sao cho xứng danh Viêt kiềụVề tới Mỹ bắt đầu ăn đồ sale, mua đồ cũ.

- May quá, vợ chồng mình chưa về Việt Nam lần nào, nội cái vụ hai đứa gởi lén tiền về Việt Nam thôi mà cũng ngóc đầu lên nhìn đời không nổi đây.

Anh Tư Chuột tươi cười:

- Vợ chồng mình rồi sẽ về thăm Việt Nam, nhưng sẽ về theo kiểu của mình, theo khả năng của mình, anh tin là má anh, má em sẽ thông cảm. Còn bây giờ vợ chồng mình cũng thông cảm nhau rồi nhé. Bây giờ anh hỏi em, sao sáng nay em không đi làm?

Cô lườm nguýt anh một cái:

- Ðã thông cảm rồi mà còn hỏi ngớ ngẩn, hôm nay em nghỉ sick leave, định đi gởi ?lén tiền xong về nhà bất ngờ cho anh vui.

- Cái bất ngờ của em làm anh chết đứng ở giữa tiệm gởi tiền đó, em biết không? Cũng may là em tế nhị phớt lờ đi ra khỏi tiệm, không thì anh bể mặt giữa chốn công cộng.

Cô cười ngặt nghẽo:

- Trời ơi, ai mà tế nhị với anh, lúc đó em cũng run thấy mồ, chỉ sợ anh níu tay em lại hỏi em ra đây làm gì thì em cũng bể mặt với bà chủ tiệm luôn cho nên em phải nhanh chân mà ra khỏi tiệm trước anh

Rồi cô hất chăn mền ra, vùng dậy ôm lấy anh:

- Cái quan trọng là từ nay vợ chồng mình đừng vì ba chuyện lẻ tẻ mà lừa dối nhau nữa nghe anh? nếu thật sự bên nhà anh hay bên em cần sự giúp đỡ thì mình sẽ giúp thôi, Viẹt kiều có nhiều loại lắm, chúng mình hãy là những Việt kiều bình thường và trung thực.

Chưa bao giờ anh Tư Chuột thấy vợ anh có lý và dễ thương như lúc này.



Nguyễn Thị Thanh Dương


Mục Lục


2. Huấn Luyện Phi Hành (truyện dài nhiều kỳ)

Tình Hoài Hương



Phần thứ Nhất
Chương 1
Chuyến Viễn Du Ðầu Tiên

Bầu trời ở miền núi rừng Ðà Lạt xanh lơ điểm những hoa mây trắng đang qùy gối trên hồ Xuân Hương thơ mộng, mây lang thang đó đây eỏ lả vắt qua sườn đồi im ắng, không gian tĩnh mịch, thinh lặng đến độ nghe hơi thở cuả rừng thông reo vi vu, thì thào với suối ngàn róc rách len qua bờ lau sậy lô xô. Mấy con đường mòn đất đỏ vắng tanh vắng ngắt, nhu mì bò trên sườn dốc đầy cỏ may xanh um. Ðà-thành muôn thuở ru tôi với giấc mộng quan hoài ước mong luyến nhớ. Tôi nhớ những cánh hoa muôn màu chen chân khoe sắc thắm trong nhiều ngôi nhà xinh xinh, có những sợi khói ấm áp nép mình bên cây mận trĩu trái, cây bưởi hoa trắng muốt toả mùi thơm ngào ngạt, cây hồng mơn mởn, cây chanh mọng nước. Cây quả mượt-mà cho tôi cảm giác lâng lâng thi vị quá chừng! Chính nơi đây tôi đã và đang có một thời nhớ nhung vô vàn nhớ và đắm say yêu người... Ấy thế mà, một mai nầy tôi buộc lòng phải luyến lưu giã từ nơi dấu yêu.

Tôi, (xin tạm gọi "Lữ Phi Hành") với tư cách là Phó thư-ký tổng hội sinh-viên Việt Nam, và có các bạn: Nguyễn Ngọc Thạch: Chủ tịch tổng hội sinh-viên Ðà Lạt. Vĩnh Kha: Chủ tịch sinh-viên Huế. Lê Ðình Ðiểu: Tổng thư ký tổng hội sinh viên Việt Nam. Lê Ðình Bảo: Tổng thư-ký tổng hội sinh viên Huế. Tôn Thất Tuệ: Ủy-viên báo-chí tổng-hội sinh-viên Sài Gòn. Chúng tôi đã lên đường đi dự Hội-Nghị Sinh Viên Quốc Tế toàn Thế Giới, lần thứ 11, nghiã là 11th ISC (international Student Conference) tại Cheistchurch (New-Zeland) và dự Hội-thảo lần 5th - Tại Sydney (Autralia) là 5th ASS (Asian Student Seminar).

Lẽ ra thì lúc 17:00, chúng tôi được xe bus đón tại hotel, để ra phi trường tiếp tục cuộc hành trình. Nhưng khổ nỗi vào giờ đó, chúng tôi mãi mê đi shopping mua sắm ngoài trung tâm. Họ gọi phone nhiều lần. Họ đến phòng ngủ của chúng tôi, đã không thấy ai. Sau khi đi mua sắm đã đời, chúng tôi quay về hotel mới biết tin nầy. Ui! Chưa kịp tắm rửa, thay quần áo gì, họ gọi phone dặn reception phải giữ bọn nầy lại, không cho đi đâu hết. Chốc lát sau, xe bus đến chở cả nhóm lên phi trường. Tất cả anh em cứ ngồi trong Louge, sốt ruột bồn chồn, lo âu, băn khoăn, đi lui đi tới chờ đợi đến tối mịt. Ðợi dài người, mới hay là đang có cuộc đình công của toàn bộ nhân viên hãng Hàng-không (bộ phận phục vụ trên không, và dưới đất).

Thế rồi, họ ?lùả chúng tôi qua thủ tục an ninh phi trường và quan thuế. Trên chiếc máy bay 707 đồ sộ, rộng mênh mông, mà chỉ có hơn bốn mươi hành khách. Chính ông phi công trưởng đoàn đã đến từng chỗ ngồi, tự tay chăm sóc cho chúng tôi. Lúc 21:00 ông ta điều khiển phi cơ cất cánh. Sau khi bình phi, ông ta để viên phi công phụ lái. Rồi ông tự xuống tiếp tục làm tiếp viên cho hành khách (vì trên máy bay không có một người tiếp viên hàng không nào. Họ đồng lòng lo kêu gọi nhau ơi ới đi đình công hết). Thấy tôi kéo cái ghế dài ra định ngủ. Ông ta nói:
- Nầy you, hãy vui lòng đứng lên chút xí.

Rồi ông luồng tay kéo hai chân ghế giăng ngang ra. Thế là cái băng ghế ba người ngồi, đã trở thành chiếc giường nệm êm ái. Ông vói tay lên hộc lấy gối nhỏ và mền, cho bọn tôi đắp. Chuyến đi buồn cười vậy đó. Nguyên cả buổi quá mệt mỏi vì háo hức lo đi mua sắm. Nên tất cả anh em bơ phờ rã rời nằm ngủ khò suốt đêm dài, không nhúc nhích. Họ thi nhau ngáy ồ ồ ồ vang như sấm. Lúc các bạn cùng tôi tỉnh dậy, thì mặt trời đã lên khá cao. Phi cơ sắp sữa đáp xuống Perth, (thành phố lớn ở miền đông nước Úc). Bước ra ngoài cửa phi cơ, tôi chợt rùng mình, vì luồng gió lạnh buốt từ ngoài thổi ập vào. Ôi sao lạnh đến thế! Bây giờ chỉ là mùa Thu, mà đã lạnh đến - 9/oC.

Chả bù cho ở Sài Gòn giờ nầy đang oi nồng nóng hầm hập! Chúng tôi co ro run lẩy bẩy, mà rụt cổ cong lưng thất thểu bước. Lúc sắp nhận hành lý, tôi mới biết là: do nhân viên ở phi trường đình công, cho nên nhân viên nghiệp dư đã sắp xếp hành lý của hành khách ở phi cơ nầy; đi qua lộn xộn với chiếc phi cơ của chuyến bay đi nơi khác!!! Thôi chết rét rồi! Trên thân mỗi người trong bọn tôi chỉ mặc mỗi một bộ quần áo mỏng và chiếc veston nhẹ. Vì quá lạnh, cho nên chả ai rủ ai, mọi người đều tạt vào shop gần đó. Mỗi người lo mua một chiếc áo khoác duffelcoat dày cui, mà mặc vào cho đỡ lạnh. Cả đoàn co ro cúm rúm, dúm dó vì vẫn lạnh thấu xương. Tôi xuýt xoa cắm cúi chạy nhanh đến xe bus. Họ chở chúng tôi về hotel.

Sáng hôm sau, họ báo là đã có hành lý từ nơi khác chuyển đến cho chúng tôi rồi. Ðồng thời có chuyến bay từ Perth đi Sydney (bờ phía Tây nước Úc). Thế là bọn tôi vội vàng nhận hành lý, lại lo lên phi cơ bay liên tiếp trên 10 giờ. Từ trên cao nhìn xuống, chỉ thấy toàn sa mạc mênh mông lạnh giá trải dài hằng ngàn cây số. Trống trải, đơn điệu võ vàng của trung tâm nước Úc. Chiều tối phi cơ mới đến Sydney. Thay vì được nghỉ đêm tại đây. Họ lại ?tống? chúng tôi lên máy bay cánh quạt cổ lỗ sĩ, bay từ Úc Châu, băng qua biển Tasmania. Qua Tân Tây Lan. Hơn hai giờ đồng hồ sau, phi cơ đến Christchurch. Một thành phố cổ kính và nhỏ bé ở hòn đảo phía Nam của New-Zealand.

Cùng trong buổi tối đó, thì ban tổ-chức cho biết là: tại miền Bắc nước Việt Nam, cũng có một phái đoàn sinh viên Bắc Việt đã đến Tân Tây Lan. Nhưng vào giờ phút chót họ bị ở lại, vì phái đoàn sinh viên của miền Nam Việt Nam (là chúng tôi) đến trước nơi đây đã ba giờ, và làm thủ tục nhập cảnh rồi. Nên ban tổ chức họ đã lịch sự từ chối phái đoàn của miền Bắc Việt Nam kia. Thế là sinh viên ngoài miền Bắc Việt Nam buồn thiu, họ phải lủi thủi ra ngồi thừ co ro người ở phi trường. Họ không được cấp visa nhập cảnh, đành chờ chuyến bay quay trở về Hà Nội. Nghĩ cũng thật xót xa và tội nghiệp! Thảo nào "phe nhóm" ở trong miền Nam đã chở bọn tôi bay đi nhanh như... gió bão và... chạy như điên, để đến nơi ?dự tranh... cho kịp chuyến tốc hành?.

Tân Tây Lan gồm có ba bốn đảo:
- Hòn đảo phía Bắc là: thủ phủ Wellington và Aukland, rất nóng.
- Phía Nam có đảo Christchurch.
- Hòn đảo Tasmania rất lạnh.

- Trong khi ở trên phía Bắc Christchurch (New-Zeland), họ có thể đi vui thích tắm biển, phơi nắng thoải mái. Thì ở phía Nam Christchurch (New-Zeland) cùng thời điểm đó, họ đi trượt tuyết, đi tắm suối nước nóng. Ở giữa đám tuyết trắng xoá, giữa hai đảo có con phà rất lớn, sức phà chứa có thể lên đến hai mươi xe hơi, & có hơn năm trăm hành khách. Nơi tôi đến dự hội nghị là Christchurch, một thành phố nhỏ tuyệt vời và thơ mộng như Ðà Lạt, (gồm có hơn bốn trăm ngàn dân định cư), thành phố rất sạch sẽ và tươi đẹp. Những ngôi nhà cổ kính và yên lặng. Con sông xanh tươi êm đềm lặng lờ uốn khúc, có từng bầy thiên nga tung tăng bơi lội. Bên những sườn đồi và bình nguyên cỏ xanh mướt, cao thấp nhấp nhô chập chùng, thì người ta thả đầy dẫy đàn cừu trắng đang cúi đầu chăm chỉ gặm cỏ. Nhà nhà đều có sân rộng lát gạch, nhiều chim bồ câu (mập ơi là mập), soãi cánh lòa xoà bay lượn trong không gian bàng bạc hơi sương, mờ mờ ảo ảo. Người dân ở đây hiếu khách. Hiền hoà. Vui vẻ. Cởi mở. Chí tình và thân thiện.

Sở dĩ có tổ chức lần họp Thứ 11th Sinh-viên Thế Giới tại nơi nầy, là vì tại nơi đây có ngôi trường đại học nổi tiếng, lâu đời nhất của Tân Tây Lan. Giống như đại học cuả Anh là Cambridge. Hay Oxford của Mỹ, Harvard, hoặc Princeton vậy đó. Tôi được đưa đến ở một khách sạn nhỏ có bốn tầng lầu, vì khách sạn cách nơi họp độ vài trăm mét, mình có thể thảnh thơi tà tà ung dung đi bộ tới lui được dễ dàng.

Hôm khai mạc hội nghị, phái đoàn miền Nam Việt Nam chỉ được ban tổ chức sắp ngồi ở hàng ghế ?quan sát viên? mà thôi. Chi lạ rứa!? Bước qua ngày thứ hai, sau khi trong hội trường đang thảo luận sôi nổi về việc: Tại sao Việt Nam chỉ có phép đến đây: để làm quan sát viên mà thôi!? Cuối cùng phái đoàn Việt Nam mới có một bài phát biểu cảm tưởng trong hội nghị. Ấy là nhờ do có lời khẩn khoản đề nghị công bình và tự do, của anh đại diện sinh viên Thụy Sĩ lên tiếng phản đối kịch liệt về việc "kỳ thị" nầy. Cho nên đại hội đồng gồm 112 nước đang tham dự hội nghị, đã đồng ý tổ chức một cuộc bỏ phiếu trưng cầu ý kiến. Kết quả: Phái đoàn sinh viên miền Nam Việt Nam đắc cử vẻ vang! Chúng tôi tri ân anh đại diện sinh viên Thuỵ Sĩ, và trân trọng cảm ơn đại hội đồng hiệp hội sinh viên thế giới. Thật tuyệt vời! Cuối cùng đại hội chấp thuận Việt Nam được chính thức gia nhập vào Hiệp Hội Sinh Viên Thế Giới.

Ngày thứ ba, họ chuyển sinh viên Việt Nam cho chính thức đường hoàng vào ngồi chỉnh tề, đâu ra đó trên những hàng ghế mời danh dự, để hân hoan tham dự hội nghị. Hoan hô tinh thần Tự do. Dân chủ. Ðộc lập muôn năm! Thế là kể từ năm 1964, Việt Nam đã được công nhận là hội viên chính thức cuả hiệp hội sinh viên toàn thế giới. Ðây là một thành công qúy giá, danh dự, rực rỡ to lớn, đám sinh viên tiên khởi nầy đã mang vinh dự về cho Việt Nam trên phương diện ngoại giao và về mặt chính trị. Cuộc họp chỉ có ba ngày là kết thúc.

Sau đó, tôi, Thạch, và Bảo ở lại Christchurch, đi tham quan hai thành phố lớn của Tân Tây Lan, ở trên đảo phía Bắc. Còn ba người kia bay đi Úc Châu trước, chờ dự hội nghị sinh viên Á Châu lần 8th. Chúng tôi hẹn gặp nhau ở Sydney. Tóm lại, chuyến đi đó chỉ xảy ra trong vòng ba tuần lễ. Thế mà tôi đã xoay trở tài tình, để có thể khoan khoái du hành ghé lại thăm Manila vui vẻ. Ði Kuala Lumpur ung dung, du lịch đó đây thảnh thơi (ngoài ra còn đi thăm các thành phố của Úc Châu và Tân Tây Lan).

Thật ra, như đã nói: Nhóm sinh viên chúng tôi đã đi xuất ngoại, dự hội nghị sinh viên thế giới lần 11th, tổ chức tại Christchurch. & Hội nghị sinh viên Á Châu lần 8th. Ðó chỉ là cách xử thế, mà ông Nguyễn Khánh dùng tiền, ?cả vú lấp miệng em?; cho đám sinh viên chúng tôi đi xa hẳn Việt Nam lúc bấy giờ. Là một hình thức ve vuốt: ngỏ hầu - cách ly các tổng hội sinh viên tại miền Nam Việt Nam ? với sinh viên trong nước -đã và đang- ráo riết hăng say hoạt động biểu tình, chống đối chính phủ rầm rộ. Chứ họ chả tốt lành gì, mà tốn nhiều chi phí cho chúng tôi "ung dung khơi khơi đi tung tăng" như thế!

Sau chuyến công du thoải mái đi Singapore. Malaysia. Úc Châu. Tân Tây Lan. Phillippines, trở về lại Việt Nam. Tôi vội vàng trở lên Ðà Lạt, rút hồ sơ, lấy mấy chứng chỉ văn bằng trên đại học. Tôi đành cay đắng ngậm ngùi rời khỏi ?con đường trí thức & kiến thức danh giá? mà mình đã chọn. Tôi đã ?hoàn tất kiếp sống vũ bão phong trần? vào năm thứ Hai tại viện đại học Ðà Lạt. Ðó cũng là do cái dấu ./. về tình yêu nồng thắm giữa ?anh PH với em HH yêu dấ´ủ xa xăm muôn trùng, từ bài thơ cuối tôi đã viết cho em:
Hoàng hôn buông những chiều nắng nhạt.
Ðường em đi cây dài bóng mát.
Mặt hồ xưa long lanh sóng vỗ,
Nắng xiên từng hàng hoa, lác đác.

Nỗi niềm riêng gợi nhớ xôn xao.
Tình yêu đến hoài vọng ước ao.
Mùa xuân tới. Ðông qua len lén,
Ðường em về cỏ đầy lối nhỏ.

Hàng thông xanh im phủ bóng mờ.
Giữa cuộc đời cảm thấy bơ vở
Trái sầu đông tê tái cõi lòng.
Giếng mắt đẫm giọt sương mòng mọng.
*
Thác ven rừng uốn lên uốn xuống
Nước rẽ đôi giòng thương ly biệt.
Ðường về quê sao buồn da diết!
Mối tình tựa ngấn sương ưu phiền (*)
*





(*) Thơ Tình Hoài Hương

Tình Hoài Hương
Kính mời quý độc giả xem tiếp chương sau
Trân trọng

*

Tình Hoài Hương

Mục Lục


3. Ðôi Mắt Màu Hi Vọng

Phan Thái Yên





(tiếp theo và hết)

Phần II

Ôi Suzanne, Suzanne ngàn năm...

Tuổi thơ của Suzanne chẳng có gì vui. Mẹ Suzanne từ chối gia thế, bỏ nhà sống chung với một người lính viễn chinh ở Ðông Dương về. Nét phong trần của gã cựu tù binh chiến trường Ðiện Biên Phủ và câu chuyện chiến tranh thương tâm đã làm xiêu lòng cô gái làm việc tại cơ quan xã hội nơi hắn vẫn đến nhận lãnh trợ cấp. Suzanne lớn lên với hình ảnh anh-hùng-nạn-nhân ở cha và sự ân hận im lìm nào đó nơi mẹ. Anh hùng hay nạn nhân, gã lính lê dương cũ vẫn phải làm việc nặng nhọc ở bến tàu để kiếm sống. Mỗi cuối ngày hắn vẫn ba hoa ở mấy quán rượu rẻ tiền trước khi chập choạng bước về nhà.

Cảnh gia đình sống chật vật trong khu xóm ngoại ô tồi tàn phản ánh phần nào một nước Pháp, kiệt quệ sau chiến tranh, loay hoay với sự tranh chấp ý thức về giá trị nhân bản cũ mới. Giữa những cơn say, người cha nếu không dài dòng kể lể câu chuyện khai hóa Ðông Dương sáo mòn thì cũng làm phiền người nghe về những oán trách cũ kỷ. Nước Pháp đã bõ cuộc nên ông phải bị thua trận, chịu cảnh tù đày. Suzanne nở dạ mỗi lần thấy mẹ không giữ được im lặng phải tranh cải với cha. Mẹ nói về một nước Pháp mâu thuẫn với chính mình. Một nước Pháp đi chiếm đóng và bị chiếm đóng, thực-dân phát-xít đồng-minh, cọng-sãn tự-do, vàsự tranh chấp về ý thức nhân bản mà người Pháp phải đối đầu. Nhìn người cha đuối lý xô cửa bỏ đi tìm quán rượu, mẹ giận dữ nói với theo.

- Ừ, tìm rượu mà uống cho say đi! Say sưa ông chỉ là tên lính viễn chinh ba hoa. Lúc tỉnh táo ông là một tên thực dân hủ lậu đáng nguyền rủa.

Lần cuối cùng người cha bỏ đi hẳn không về lúc Suzanne vừa lên trung học. Mẹ cũng chẳng buồn tìm kiếm. Nhiều năm trôi qua, thỉnh thoảng chỉ là những tờ thư hứa hẹn viễn vông người cha viết từ nhiều nơi khác nhau đâu đó tận Bắc Phi. Ngày nhận được tin chồng làm lính đánh thuê bị giết chết ở Algérie, mẹ đứng lặng nhìn khung trời tuyết giăng trắng xóa rồi xô cửa tìm ra quán rượu đầu xóm. Trong cơn say mồ côi, bà ngồi im lìm nhỏ lệ thương xót người đã thô bạo bước qua dẫm nát khu vườn thanh xuân đời mình . Dìu bà về nhà, Suzanne cảm thấy thương mẹ vô cùng. Nàng tự trách sao lòng chẳng mấy buồn phiền khi hay tin người cha phóng đãng đã qua đời.

Tại sao con người mãi thù hận chém giết nhau? Suzanne suy nghĩ nhiều về cuộc chiến tranh khốc liệt vẫn tiếp diễn ở Ðông Dương. Trong cánh rừng nhiệt đới xa vời đó, con người đang nhân danh chủ nghĩa, ý thức hệ, tự do, cơm áo, để dấy động cuộc điêu linh. Mối thương tâm về sự chết chóc thảm khốc của nạn nhân chiến tranh vô tội khiến nàng băn khoăn muốn làm một điều gì để thoa dịu phần nào nỗi đau con người.

Cô gái chưa tròn mười tám đã từ giã mẹ đi về phía giấc mơ đời đang vẫy gọi. Nàng đến với Ðông Dương.

Khu bệnh xá từ thiện cất bên bờ dòng sông ôm quanh thị trấn miền núi Tây Nguyên đón chào Suzanne đến như một tia nắng rực rỡ. Cô gái người Pháp, tóc như tơ vàng óng ánh, nói cười làm việc giữa nhóm dì phước đầu vấn khăn nghiêm trang trong chiếc áo dòng tu luộm thuộm màu xanh nước biển đã làm khu bệnh xá vui tươi hẳn lên.

Ðám học trò Kinh Thượng lao xao quấn quít theo nàng như bầy chim non trên đường đến lớp. Trường trung học, nơi nàng tình nguyện dạy sinh ngữ, cùng với ngôi chủng viện tọa lạc một vùng đất lớn ở đầu con dốc cao nhất thị xã. Dọc theo hai bên con lộ rãi đá, từng bụi hoa hoàng anh khoe sắc bên những giàn bông pháo đỏ rực như lửa. Cuối con dốc khiêm nhường khu bệnh xá ẩn mình trong rẩy cà phê xanh lá bạt ngàn. Xa xa khúc sông Dakla cạn lòng lô nhô đá. Khu buôn làng bên kia sông se sắt từng vệt khói lam vương vấn sớm chiều. Rải rác quanh thị trấn những ngôi giáo đường được xây dựng từ đầu thế kỷ bề thế vươn cao. Màu trắng tháp chuông hằn rõ lên nền xám xanh của lớp lớp núi rừng bao quanh vùng thung lũng trù phú.

Ở đây hầu hết những công trình kiến trúc đều do người Pháp xây dựng từ những ngày thuộc địa cũ. Tất cả tuy cũ kỷ vẫn còn nét tinh tế cầu kỳ. Lính viễn chinh mới đang bận rộn xây lập cầu đường cho nhu cầu chiến tranh, vội vã mà chắc chắn. Ngày Suzanne đến thị trấn, cây cầu sắt mới bắc qua sông nối liền con tỉnh lộ huyết mạch với vùng duyên hải vừa hoàn thành. Toán lính Mỹ nhường lối cho nàng, vẫy tay chào rối rít. Nàng nghĩ đến hàng trăm ngàn người lính Pháp, trong đó có cha cô, mấy chục năm trước và những người lính trẽ trung ồn ào quanh nàng bây giờ. Trong hoàn cảnh nào cha cô đã trở thành tàn nhẫn thô bạo? Lúc nào thì bàn tay những thanh niên trạc tuổi nàng sẽ phải nhúng chàm chiến tranh chai đá vô luân? Ý nghĩ khiến nàng cảm thấy buồn phiền.

Tiếng cười đùa của bầy trò nhỏ sau buổi học, ánh mắt hi vọng của bà mẹ chờ con ở bệnh xá đã giúp Suzanne bình thản hơn trong sự nghĩ suy. Có lẽ sự gần gủi với thiên nhiên đã giúp con người ở đây tìm thấy được hy vọng trong cuộc sống bất ổn thường trực. Niềm hạnh phúc đơn giản như tiếng cười dòn tan của bầy sơn nử tắm khỏa thân trên sông. Họ để lại nhọc nhằn cho nước cuốn trôi trước khi trở về buôn làng bập bùng bếp lửa chiều. Nàng nhắm mắt lắng nghe thân xác phơi mở theo dòng nước lao xao. Chuổi cười nhấp nhô theo bước chân bầy con gái Rhadé trên đường về thôn bản mơn man ý nghĩ nàng rạo rực khuôn ngực trần căng dáng núi và mắt ai là lạ đáy hồ mơ.

Cùng dạy với Suzanne là một chủng sinh. Anh nói lưu loát hai sinh ngữ Anh Pháp nên được chủng viện phái đến để giúp nàng trong việc giảng dạy. Anh đến lớp trầm lặng, nhỏ nhẹ, rồi nhẹ nhàng đi như bóng. Ðôi mắt nâu trong sáng mở to chăm chú mà dịu dàng. Không hiểu vì chiếc áo dòng đen cách biệt đạo đời hay vì dáng vẽ nghiêm trang của người thanh niên, Suzanne chưa hề dám nhìn chàng lâu hơn một chớp mắt mà không khỏi bối rối. Có lần, sau lớp học, nàng đánh bạo hỏi người chủng sinh về hương thơm lạ thoang thoảng đâu đó rất gần. Lộc, tên người chủng sinh, mỉm cười nhỏ nhẹ giải thích. Trước sân chủng viện có một cây ngọc lan lâu năm. Ðang mùa hoa, chàng có thói quen ngắt vài cánh bỏ vào túi trên đường đến lớp.

- Cho bớt nhớ nhà. Cây ngọc lan trước sân nhà có lẽ cũng đang nở. Mẹ tôi thường hái hoa thả vào nước để giữ hương.

Từ đó trên bàn cô giáo luôn luôn có vài cánh ngọc lan phơn phớt mùi hương. Ðôi mắt người thanh niên như dịu dàng hơn. Ánh mắt đầm ấm như từng viên cuội trắng rơi lắng vào giấc mơ nàng làm bừng lên nỗi đam mê diệu kỳ. Ðôi khi trong mơ chiếc áo dòng tu đã trở thành chiếc bị phù thủy khổng lồ đen ám phủ chụp lấy nàng, khó thở và buồn bã.

Ngày trước tuần lể tĩnh tâm, người chủng sinh mang đến lớp nhiều hoa ngọc lan thả trong ly nước. Chàng nhìn những cánh hoa trong nước lạnh tần ngần.

- Ðã cuối mùa hoa rồi. Không biết mấy nụ bông cuối này giử thơm được bao lâu.

Nhìn theo người thanh niên trong chiếc áo dòng đen cúi đầu bước đi dưới bóng cây ngọc lan, Suzanne chợt biết mình đã yêu và muốn khóc. Trong tim nàng vừa nở nụ hoa yêu màu tinh khiết lưu hương.

Tuần lể cấm phòng dài như một hình phạt. Khoảng sân trước chủng viện thênh thang nỗi buồn sa mạc kéo dài hoang vắng vào trong lớp học. Ở bệnh xá, nàng im lìm làm việc, chờ đợi. Ngày qua. Tuần qua. Buổi sáng khi một nử tu người Rhadé đến lớp tự giới thiệu sẽ thay thế Lộc, nàng phải cố gắng trấn tỉnh để khỏi bật ra tiếng kêu thương. Cội ngọc lan giữa sân nắng chủng viện đứng bơ vơ như một ốc đảo xa vời. Suzanne xin nghỉ dạy. Nàng tìm cách bận rộn với công việc bệnh xá để tìm quên. Nỗi sầu vẫn đến trong từng giấc mơ, cay nghiệt chiếc áo dòng tu đen màu khổ hạnh dang rộng như cánh dơi phủ chụp. Buồn lẽo đẽo theo từng bước chân hoang vu trên bãi sông chiều. Buồn vương trên xao xác tiếng cười sơn nữ. Buồn lã ngọn khói chiều.

Người dì phước trẽ tuổi ngỡ ngàng nhìn Suzanne-tươi-như-nắng đang qùy khóc trong nhà nguyện bệnh xá, ân cần khuyên hỏi. Giữa những giòng lệ, nàng trãi lòng mình với người bạn nử tu xúc động lắng nghe.

Suzanne từ giã thị trấn cao nguyên xin về phục vụ dưới tàu bệnh viện Hope ở Ðà nẵng. Nàng đành đi xa để giúp người chủng sinh sống trọn với lời khấn nguyện như Mẹ Bề Trên đã khuyên bảo.

Tàu bệnh viện đông nghẹt nạn nhân chiến tranh, hầu hết là đàn bà trẻ em, từ những quận lỵ xa thuộc tỉnh Quảng Nam, Quảng Tín. Suzanne quá bận rộn với việc săn sóc bệnh nhân không còn thì giờ nhiều cho nỗi buồn riêng. Sau giờ làm việc nàng chẳng thiết chuyện viếng thăm thành phố. Nàng đứng trên bong tàu nhìn ngóng mông lung. Bờ sông mát rượi hàng cây xanh bóng lá. Thân cành như cánh tay vươn dài sa xuống tận mặt nước, lác đác nụ hoa đỏ đầu mùa. Từng cơn gió đượm mùi biển nồng nàn lướt trên mặt sông làm sóng lao xao. Ngược phía thượng dòng, chiếc cầu sắt mang tên của một bại tướng người Pháp đen đúa bắc qua sông, thấp thoáng đoàn xe nhà binh chạy về phía bán đảo. Mỗi chiều tàu nhổ neo chạy ra cửa biển, ở lại qua đêm để phòng khi cọng-sãn pháo kích vào thành phố. Chuyến hải hành ngắn từ cửa biển về lại phố vào mỗi buổi sáng đã mang đến cho Suzanne chút bâng khuâng náo nức trở về. Thành phố tan giới nghiêm thức dậy cùng chuyến phà sớm nôn nóng qua sông. Trên bến xa lạ người lên kẻ xuống, tấp nập đi chợ, đến trường. Ước mơ về một dáng người quen thuộc bên bờ đứng đợi đã không xảy ra vào những buổi sáng như thế. Nàng thở dài tự nhủ lòng.

Thế rồi bức thư Lộc viết do một người bạn tìm trao khiến cơn mơ không tưởng của nàng đã thành sự thật. Người sinh viên trẽ cho biết Lộc đã bỏ chủng viện về nhà

ở thành phố này. Ngày nào Lộc cũng ra bờ sông muốn tìm gặp nhưng ngại ngần Suzanne không chịu tiếp. Nàng tươi cười bắt tay người bạn mới, lòng vui rộn rã như tiếng máy chiếc xuồng đang nhảy sóng đưa họ vào bờ.

Người thanh niên đứng đó cao vời. Ðôi mắt sâu trìu mến nhìn mắt người yêu long lanh giọt lệ hân hoan. Họ chẳng có gì để phải hối tiếc, phân bua hoặc giải thích cho nhau. Chiếc áo dòng tu màu đen ám đã được xếp ngay ngắn trên đầu giường trong căn phòng chủng viện khóa chặt. Chàng đã lựa chọn chỉ yêu một người. Nàng thì đã từ lâu mở rộng ngỏ lòng. Ðôi tình nhân đi vào mùa hè của đất trời của tình yêu bằng tay ôm bịn rịn, môi háo hức hôn và những rung cảm tuyệt vời thiệt thà da thịt.

Ðứa con tình yêu được cưu mang và ra đời trong yêu thương chắt chiu của cha mẹ, bạn bè. Ðiệu hò Lục Vân Tiên trên bến sông trưa là gợi ý tình cờ cho người bạn của cha mẹ đặt tên bé Hà Khê. Tên đẹp mà buồn như vọng âm lời tiên tri trắc trở quan san của một mối tình từ buổi suối khe.

Không lâu sau mùa hè cha me, bạn be, hạnh phúc nhìn bé Hà Khê chập chửng nô đùa trên bãi Mỷ Khê, Lộc phải vào lính. Chàng từ chối lời nài nỉ của người yêu theo nàng đưa con về Pháp để tránh chuyện gươm đao. Nàng nghĩ đến người cha chết trong chiến tranh và những điều đến với ông trước đó. Sự biến đổi của con người từ những thói quen học được trên chiến trường tồi tệ, giết hay bị giết, đã làm họ trở nên tàn ác vô tâm. Nàng rùng mình nghĩ đến hình ảnh khổ sở đau đớn của nạn nhân chiến tranh mà nàng săn sóc cứu giúp hằng ngày. Suzanne lo sợ một ngày nào đó chính mình và con sẽ trở thành nạn nhân của cuộc chiến tranh. Nàng đã đến với Ðông Dương với niềm suy tưởng của người đi lau nước mắt. Vì yêu Lộc nàng sẽ hy sinh để được gần gủi chia xẽ vui buồn gian khổ với người yêu nhưng tương lai bé Hà Khê phải là biên giới cuối cùng cho bất cứ sự hy sinh nào khác.

Lần cuối cùng Suzanne đưa con đi thăm Lộc trong một vùng giao tranh. Chàng không nói nhiều, đôi mắt sâu trong sáng tuy đăm chiêu đã ngời lên một cả quyết nào đó nàng không thể nào hiểu được. Chỉ cảm nhận được nó để cảm thấy điếng lòng. Lộc bồng bé Hà Khê, vuốt ve mái tóc con vàng óng như tơ.

- Ðôi mắt con giống anh, chắc lớn lên cứng đầu lắm.

Chàng lau khô đôi mắt nhoà lệ của người yêu. Họ ôm nhau thật lâu. Thời gian ngừng trôi rồi chìm sâu trong chới với chia ly.

- Em gắng đem bé Hà Khê đến thăm Mẹ trước khi đi. Ðang mùa hoa, cây ngọc lan trước nhà có lẽ đang nở rộ.

Lộc cúi đầu quay bước. Suzanne bồng con, tan nát cõi lòng, nhìn theo bóng dáng người yêu lầm lủi bước đi trên con đường trở ra mặt trận.

Lời người kể chuyện:

Không lâu sau buổi hạnh ngộ tình cờ, Hà Khê và người bạn của cha mình cùng trở về Việt Nam và tìm gặp được người thân.

Sau mấy năm cải tạo, Lộc rời Ðà Nẵng đưa mẹ lên sống ở thị trấn cao nguyên nơi ông gặp Suzanne lần đầu tiên.

Sau một cơn bạo bệnh đôi mắt Lộc đã mất thị lực. Tuy mù lòa, ông vẫn chú tâm học hỏi và đạt được trình độ cao trong lãnh vực dùng nhân điện để chửa bệnh từ thiện cho đồng bào trong vùng.

Bốn mươi năm trước, Lộc đã cởi bỏ chiếc áo dòng tu và chối bỏ lời khấn nguyện với Thiên Chúa để chỉ yêu một người. Lộc đã quay về. Với trái tim nhân bản thiết tha, ông mang lại niềm tin và hy vọng cho rất nhiều người.

Hà Khê và người bạn của Lộc tìm đến ngôi nhà nhỏ bên dòng sông Dakla giữa lúc ông đang bận chửa bệnh cho dân.

Nghe lời Bà Nội, Hà Khê và người bạn đã dằn cơn xúc động ngồi chờ ông trước sân nhà.

Người bạn của Lộc đã hỏi Hà Khê nghĩ thế nào về phương cách chửa bệnh bằng nhân điện với cái nhìn của một bác sĩ Tây Y.

Ðôi mắt Hà Khê ngời lên, quyến luyến một màu nâu thăm thẳm Ðông Phương.

- Có lẽ chú đã thấy những đôi mắt tràn đầy tin tưởng của đám đông bệnh nhân đang chờ? Có điều gì giá trị hơn là mang hy vọng đến cho con người?

Người đàn ông mắt nhòa lệ, lòng run nỗi hạnh phúc không ngờ. Trong lắng đọng thời gian, căn nhà rêu phong kỷ niệm vẫn còn đó, ấp ủ giữ gìn. Bước chân trẻ thơ trên triền cát nằm xuôi đợi buổi triều dâng. Bến sông trưa ầu ơ tiếng ru hời có giấc ngủ về trước lời thơ nhắn gọi.

Kim Liên ơi hởi Kim Liên

Ðẩy xe cho chị qua miền hà khê...

Nhìn đôi mắt màu nâu diệu vợi của cô gái đang mở lớn nhìn cha, người đàn ông biết ông đã đến miền hà khê đời mình với tấm lòng hoài niệm và nỗi hi vọng không nguôi.

Ông nghĩ đến đôi mắt của những người mẹ, đứa con, những người tìm kiếm đợi chờ.

Những đôi mắt đẹp. Ðôi mắt màu hi vọng.

Phan Thái Yên


Mục Lục


4. Ngày Giỗ Mẹ


Trần Thành Mỹ




Theo phong tục truyền thống Việt, dân ta kỷ niệm ngày qua đời của người quá cố, ngày giỗ, khác với người Tây phương thường kỷ niệm ngày sinh gọi là sinh nhật. Ngày nay việc tổ chức mừng sinh nhật không làm cho một ai ngạc nhiên hay phê bình. Riêng về phụ nữ, ngoài ngày Phụ nữ 8-3, ngày Vu Lan, rằm tháng 7, mùa Báo hiếu, còn có Ngày Hiền mẫu. Thật là một tập tục đẹp để nhắc nhở người con mọi thời nguồn cội và đồng thời bổn phận vinh danh gìn giữ và phát huy .

- Mẹ ơi, nhà con đi rồi mẹ biết đấy, chắc rồi đây trước sau gì con cũng phải sang theo. Ba đứa cháu của ngoại cần sự giáo dục của cha lẫn mẹ, gia đình mà cha mẹ xa nhau đáng thương con cái quá. Con không biết đến chừng nào chúng con mới gặp lại nhau, tâm trạng con lúc nầy rối bời bời, mẹ khuyên con gì đi mẹ ? Mây ôm lấy mẹ nước mắt đoanh tròng.

Mây là con gái một, cha mất khi Mây lúc còn nhỏ, lập gia đình đã có ba con rồi mà vẫn còn ở chung với mẹ cho đến ngày chồng theo diện đoàn tụ gia đình bên chồng đi nước ngoài.
- Mẹ già rồi không biết ngày nào về với ông bà.Thật lòng mẹ không muốn rời con cháu nhất là các cháu còn nhỏ quá, mẹ lại không còn tuổi và sức khoẻ để đi theo được. Từ lâu mẹ vẫn biết thế nào cũng có ngày nầy, vì vậy ngày nào các con còn ở lại thì cố gắng chịu đựng, thời gian chờ đợi thường dài lắm đó con.
- Hôm tiễn nhà con ra phi trường với gia đình bên nội các cháu, nhìn theo nhà con nhỏ dần biến hút sau cánh cửa phi cơ, quay lại bên mình ba đứa nhỏ ngơ ngác vừa vẫy vẫy tay từ biệt vừa lẩm nhẩm kêu bố ơi, bố ơi, con bấy giờ mới cảm thấy bơ vơ cô đơn làm sao !
- Mẹ hiểu con buồn lắm, nhưng con cũng nhớ rằng con có phước hơn nhiều người khác có hoàn cảnh bi đát hơn. Bây giờ không phải lúc mà con lo buồn về cuộc chia ly, mà từ đây con phải mở tai mở mắt to mà sống, thực tế khác hẳn không biết đâu mà lường.

Trước kia, khi cậu con mất đi, thời thế khác, mẹ một mình nuôi con theo ý mẹ được. Dưới thời Pháp thuộc, Nhật thuộc, họ là người ngoại quốc xâm lăng, mình phân biệt rõ ràng ai là ai. Rồi đến thời Việt nam Cộng hòa cũng có những luật mới áp dụng như Luật gia đình, luật Người cày có ruộng, luật bầu cử ?,cuộc sống và thân phận của người dân cũng khác bây giờ.
- Thương mẹ đã trên 80 tuổi rồi mà còn không vơi lo lắng cho con cháu, má nghĩ chu đáo cho tụi con còn hơn lo cho riêng mình.
- Nước mắt chảy xuống con à, rồi đây tới phiên con, con cũng tất đi qua con đường ấy như mọi người mẹ trên đời. Người đàn ông Việt nam ta thường sống về công danh sự nghiệp, ngoại tướng, còn phụ nữ chúng ta dù có chức phận cao sang đi chăng nữa, bổn phận nội tướng làm vợ làm mẹ vẫn là trọng yếu. Nếp nhà có tốt yên được là phải do bàn tay người phái yếu, bà mẹ đó con. Không ai phủ nhận địa vị cốt yếu của người cha trong gia đình, do đó mới có câu đổ lỗi cho các bà ?Con hư mẹ, cháu hư tại bà ? đó.
- Bây giờ khác hơn rồi mẹ ơi, ở các nước tân tiến, quan niệm về người phụ nữ khác hẳn, tự do và bình đẵng hơn. Quyền lợi và bổn phận cũng đồng đều không như thời trước của mẹ. Ngày xưa có những ngành nghề như đặc quyền của phái nam như quân nhân, bác sĩ, luật sư, giáo sư chẳng hạn. Bằng cớ là ngay cả nước Pháp trước kia chỉ có docteur, avocat, professeur, facteur, maçon,?sau nầy mới có nữ bác sĩ, nữ luật sư doctoresse, avocatẻMẹ của con cũng văn minh thức thời thua ai đâu, mẹ cũng dám ?tống cựu nghinh tân? chọn cái mới hay, bỏ cái lạc hậu nên dù có một con mà là con gái nữa vẫn cho con tiếp tục học lên.

Ngày nay, người ta còn châm biếm đùa thời đại nầy là thời của các bà các cô, như ở Mỹ là thời ?first Ladỷ, dân Pháp cũng được nổi tiếng galant ?nịnh đầm? đó mẹ. Mẹ nói rồi con mới nhớ một chuyện thật tức cười vô cùng minh chứng chuyện trên gần đúng 100%
- Con kể đi.
- Mẹ nhớ không, sau khi đi học nội trú ở trường Nữ Trung học Gia long được gần một năm thì phong trào Sinh viên học sinh xuống đường biểu tình rồi đám táng anh Trần văn Ơn mất ngày 09-01-50. Sau đó, các trường bị đóng cửa nhưng đầu niên học mới, tất cả học sinh phải thi lên lớp. Thế là phụ huynh xôn xao, ai cũng tìm cách cho con học thêm các môn chính ở Saigon vì ở tỉnh nhỏ bây giờ chưa có trường Trung học.
- Mẹ nhớ mài mại rồi, hình như con lên ở trọ một hai tháng gì đó bên Khánh hội đi qua Cầu Ông Lãnh, trong hẻm phố cất sát bên bờ sông. Trước nhà, dường như có một cái xưởng sơn mài Thành Lễ, thời cơ sở còn chưa nổi tiếng quốc tế như ngày nay.
-Trí nhớ mẹ còn tốt quá, nhà anh Tư Như đó, lúc bây giờ anh chị vừa mới có cháu trai Bình đầu lòng bụ bẫm thật dễ thương làm sao.
- Anh tư con mồ côi cha mẹ lúc chín mười tuổi, hồi nhỏ cũng ở nhà mình đi học, lớn lên đi làm xa lưu lạc nhiều nơi. Có một điều là mỗi năm Tết đến thế nào cũng về quê thăm bà con, ăn mặc bảnh bao, chải đầu mướt mượt ?ruồi đậu phải chống gậỷ, bải buôi, gặp ai cũng chào hỏi, hay hát hút gió như Tây và kể chuyện xứ người không biết có thật hay không nhưng hấp dẫn vui nhộn yêu đời lắm, cái thằng !
- Anh thứ tư mà sao con nghe hàng xóm gọi thầy ba, chắc là thứ của chị thì phải.
- Không phải, theo nó nói, có dạo nó làm thư ký cho cơ sở khai thác đá làm đường gì đó mà nên người quen gọi là ?thầy Ba đá?, ?
- Biệt danh gì mà có vẻ anh chị ?ba đá du côn? quá.
- Ờ ha, vậy mà nó cứ bảo là trùng hợp thôi và nó còn khoe đào hoa lắm, nhiều cô ?mết? nó trong đó có cô Ba cháu ông chủ nữa. Chắc nó xạo miệng chút ít thôi chứ chưa có thấy nó làm gì tai tiếng bậy bạ. May là nó trụ lại được, cưới được vợ lúc lên ba mươi mấy tuổi rồi. Chị tư của con cũng là con gia đình khá giả có tiếng ở Long xuyên, không biết làm sao mà nó quen cưới được. Lần đó nó có về mời má với hai vợ chồng chị nó đi dự đám cưới đại diện cho đàng trai vì nó không còn cha mẹ nữa. Thấy bề ngoài hời hợt của nó, thế mà rất có phong cách đàng hoàng lịch sự làm bà con ai cũng ngạc nhiên, bên gái cũng có vẻ vui mừng thật sự. Thở phào nhẹ nhõm dù mệt mà vui.
- Cái tánh nịnh đầm của ảnh, chắc mẹ biết rõ, mẹ cũng bị nhiều người mắng vốn lắm rồi vì người ta cho là 35 ?dê xồm? vì ảnh hay vồn vã hỏi thăm làm quen tươi cười lanh miệng lẹ mắt đối với mọi người kể cà các bà cô mới gặp.
- Ôi nói gì cái mững đó thì chắc cũng có chứ không thuần ?tình ngay lý gian? đâu. Mà thật ra cũng nhờ đó nó mới được như vậy. ?Cha mẹ sinh con, Trời cho tính?, ba má của nó hiền như cục đất, ít ăn ít nói, thế mà nó hoàn toàn không giống chút nào hết. Các ông thì cũng không ghét nó vì có mặt nó ở đâu thì không khí vui nhộn lên, nó kể chuyện cũng có duyên lôi cuốn lắm, chuyện trời đất Tây Tàu ?trà dư tửu hậủ gì thường liên quan nó thôi nên không phật lòng ai hết, người ta cười xòa cho là ?ba xạỏ, nói đùa tán hưu tán vượn cho vui, xí xóa phần tình tiết râu ria thêm thắt cho câu chuyện ly kỳ gay cấn dí dỏm hào hứng lên.
- Ảnh hát khá hay thuộc nhiều bản nhạc Pháp nổi tiếng mà biết đàn mandoline, hạ uy cầm chút đỉnh lại còn hay huýt sáo nữa, ảnh còn nói tiếng Pháp khá trôi chảy.
- À má còn nhớ, lúc Pháp chiếm tỉnh mình, dân ở trung tâm tỉnh tản cư về làng, anh Tư con cũng từ Saigon vể nhưng bị mụt nhọt sưng to làm ảnh nằm liệt một chỗ sốt nặng đành ở lại nhà không theo về quê được. Thế mà vậy mà may.

Một hôm lính Tây đi ba trui (patrouille) đi tuần, lục kiểm soát từng nhà, đập phá tứ tung, mở tủ rương trấp lấy đồ đạc, bắt giữ người còn ở lại đem về bót để phỏng vấn điều tra, bắt cả gà vịt heo, lưới luôn cá nuôi ở ao nhà. Do đó họ phát hiện ngay nhà nào tình nghi có người còn ẩn trốn ở lại. Tên chỉ huy ra lệnh bao vây mục tiêu địch như đi hành quân vậy, súng đạn lên nòng rôm rốp trong tư thế sẳn sàng chờ lệnh tấn công, tình hình rất căng thẳng đáng sợ lắm.
- Toàn là lính Tây không hả mẹ?
- Quân đội Pháp viễn chinh bấy giờ tạp pín lù tạp nhạp lắm, gồm nào là thành phần cốt cán chỉ huy là Pháp, nào là lính bắt buộc thi hành đầu quân của các nước bị Pháp đô hộ như Indochine française ( gồm ba nước Việt nam, Cao miên và Lào);, Maroc, Algérie, Tunisie, Madagascar,? và đặc biệt lực lượng lính thuê đủ da màu rất thiện chiến, được huấn luyện quân sự tác chiến, lính lê dương
- Nhà mình cũng bị đập phá phải không mẹ?
- Tất nhiên nhà nào cũng vậy hết không mất mát ít thì nhiều, ai cũng sợ hết, đàn ông con trai bị bắt thì bị giữ nhốt để khai thác tin tức dò la truy tìm diệt lực lượng kháng chiến. Bị bắt thì thường bị tra tấn dữ dội ác độc lắm. Cậu Bảy con cũng là nạn nhân chiến tranh đô hộ đó, bị cho điện châm vào nơi hiểm yếu của cơ thể giật chết lên chết xuống, cho đi máy bay, tàu lặn trấn nước hộc máu mới thôi.
Còn đàn bà con gái thời bố ráp nhiễu nhương nầy, nhất là ở thôn quê, cũng trở thành con mồi sống cho những tên lính xa nhà không có vợ con theo, lính đánh thuê giết mướn đủ thứ da màu từ Á sang Âu.

Mà con biết không, bất cứ ở đâu củng thế, trong chiến tranh, thông thường người ta nghi rằng ai mà bị bắt là chỉ khi bị có tên nào chỉ điểm thôi, thời bấy giờ ta gọi ngắn gọn là Việt gian, nôm na là lính kín, còn sau nầy văn minh tân tiến hơn thì có ngành huấn luyện mật tinh nhuệ riêng như là « phú lít » (police) cảnh sát, công an, tình báo, mẹ không rõ lắm. Thành phần nầy thời nào cũng thế ít được dân chúng ưa, oán ghét nữa là dù có người tốt xấu khó phân biệt được. Nhất là những thông dịch viên gọi là thông ngôn (interprète), vì chỉ một từ dịch sai cũng có thể là viên đạn đồng kết thúc một cuộc đời vô tội đó con. Dịch là phản (traduire c?est trahir) là như vậy đó.

Ở quê mình chẳng hạn, người dân vẫn còn nhớ đến thời kỳ kháng chiến chống Pháp, không quên công ơn các vị anh hùng Võ Tánh, Trương Ðịnh và nhất là sự phản bội của Ðội Tấn mà Tháp Lãnh binh Tấn được Pháp xây lên tại trung tâm Châu thành Gòcông cho đến 1945 mới bị dân địa phương nổi lên đập phá tan tành.
- Ðáng thương cho các nước bị xâm lăng quá, không biết đến chừng nào mà các nước tự cho là đại cường từ bỏ mộng làm bá chủ hay tìm đất mới, thị trường rẽ để trục lợi cho mình.
- Mẹ còn nhớ hôm nhà mình bị đập phá, tối hôm ấy, cả nhà bên ngoại hoảng hốt vì giữa đêm có tiếng cào cửa dồn dập và tiếng sủa nho nhỏ mệt mõi khàn đục của con chó. Té ra là con chó Jackie nhà mình, nó khôn quá đánh hơi tìm ra nơi tản cư của mình để báo tin. Lúc đó mẹ nghĩ ngay là chắc chắn nhà mình có chuyện không may xảy ra rồi. Chừng trở về nhà, nhà cửa tan hoang.
- Còn anh tư Như đâu ?
- Như mẹ đã kể, khi mọi người vội vã bằng mọi phương tiện riêng chạy về làng của bà con hay quen biết tìm nơi trốn tránh không biết thời gian bao lâu, vì anh Tư con không di chuyển được, ai cũng lo mang đồ đạc tùy thân để chạy trốn, ẵm bồng con trẻ, phụ đẩy xe hay võng các cụ nội ngoại, khó ai giúp ai được người khác hết. Thằng Tư đành chịu trận ở lại thôi, định đi sau.

Khi lính Tây lục soát từng nhà, họ phát giác dễ dàng nó nằm vùi trên bộ ván gõ sốt nặng, mụt nhọt mưng mủ hành nó dữ dội, mặt mày đỏ gay. Một mặt, tên nào tên nấy cứ thả giàn đập phá cửa thông thương hoặc tủ nào còn khóa tìm gì còn xài được thì lấy tự do, mặt khác vị chỉ huy toán lính đó tự đến hỏi cung kẻ nào bị bắt. May là anh tư con còn tỉnh chưa bị mê sảng nên cố ngồi dậy đưa hai tay lên đầu khi thấy nòng súng sáu hay mút ca tông chỉa về phía mình.
- Vậy là ảnh bị bắt hả má ?
- Ðáng lẽ là như vậy, nhưng nó còn tốt số nên gặp được một quân nhân trẻ tốt bụng thương người. Ông ta định sai người lính tùy tùng gọi tên thông ngôn để phiên dịch, nghe thế anh tư con vội trả lời ngay là biết nói tiếng Pháp và kể là bị bệnh sốt rét rừng nặng, đã được chích và uống thuốc quinine. Chẳng may bị abcès sưng to đau đớn lắm và không có ăn uống gì hết kiệt sức nên không ra trình diện được. May mắn hơn nữa là người nầy lại thuộc quân y nên anh ta bảo đưa cho xem chỗ đau để kiểm tra thật hay giả. Khi phát hiện ra chỗ sưng đỏ gần bể, vị sĩ quan ấy cho lính dìu anh con ra xe jeep chở vể P. C. (chữ tắt của Poste de Commandement) Trung tâm hành quân của Pháp lúc bấy giờ để giải phẩu ngay. Hai hôm sau lại chở về nhà trở lại và nhân đạo hơn, mỗi ngày anh ta cũng trở lại thay băng săn sóc vết thương.
- Khó có người như vậy quá phải không mẹ ? Thật đáng phục tình nhân đạo thật sự biết dường nào. Nhớ ngày xưa ta đều gọi người ngoại quốc là Bạch quỷ, Hắc quỷ, Hồng mao, bây giờ ta nhận thấy rằng cũng có quỷ hiền quỷ tốt và tiên thánh cũng có tiên ác, ma vương, tiên thật tiên giả.
- Là con người mà con, không ai hoàn toàn cả, đừng đòi hỏi điều không có đó đi. Ðâu phải chỉ ở các nước giàu văn minh là toàn người tốt bụng tử tế mà cũng có kẻ gian ác giết người. Câu chuyện mẹ kể trên như là một bằng chứng hiển nhiên.
- Trở lại chuyện anh tư nha mẹ, không biết có phải rút kinh nghiệm sống trên anh tư bắt đầu trụ lại lập gia đình. Anh biết lo gia đình nhưng cái tính cà rỡn bốc đồng, máu văn nghệ của anh lắm lúc làm chị tư nổi máu Hoạn thư, tam bành lục tặc khóc ầm cả nhà.

Có lần, con vừa đi học về nghe tiếng khóc trong phòng ngủ cùng với tiếng quát tháo của anh tư cộng thêm tiếng chát chát :? Ðánh chết luôn cho biết?. Sợ quá, con vội chạy vào trong, thì ra, một hoạt cảnh xảy ra trước mắt thật buồn cười là chị đang đu trên lưng ảnh vừa khóc vừa đánh túi bụi vào lưng trần của anh, còn anh tay thì đánh vào tấm vách ván bổ kho gây tiếng động, miệng la to át tiếng khóc của chị. Con rút lui có trật tự không dám hó hé nói tiếng nào hết.
- Vậy mà nó không lộn xộn gì cả, không vợ bé vợ nhỏ, cũng tốt. Nói lại chuyện mình đi con, con thấy không, ở đâu có chiến tranh cũng khổ hết con à, mà xứ mình thì không biết đến chừng nào mới có hòa bình thật sự. Thời kỳ hậu chiến tranh cũng đáng sợ lắm đó con. Với tuổi đời của mẹ, mẹ đã chứng kiến bao thăng trầm của lịch sử, bao sự đổi đời rồi mà lần nào cũng hy vọng là lần cuối để rồi, thật khó hiểu làm sao.

Không phải chỉ có kẻ thù khác chủng mới là tàn ác mà chính là đồng bào ruột thịt của mình, thật đáng tủi hổ làm sao. Cũng như nước đại cường nào có mộng xâm lăng bá chủ mà ở cách xa mình qua đại dương, cách biệt bằng nhiều tầng nước khác thì không nguy hiểm bằng nước tự xưng là nước anh em kết nghĩa, đồng chí bạn bè láng giềng hùng mạnh, vậy theo chuyện huyền thoại Hy Lạp, giống như thanh gươm treo lơ lửng bằng một sơi lông đuôi ngựa ngay trên đầu Damocles.
- Lần nầy con về thưa với mẹ hoàn cảnh của con hiện nay. Nếu không có gì thay đổi thì trước sau gì nhà con cũng bảo lãnh chúng con sang, càng lâu càng bất tiện cho các cháu lắm. Vi lý lịch như thế nầy, tương lai của các cháu không biết thế nào. Nhưng nếu mẹ muốn, con có thể ở lại với mẹ và để cho các cháu sang trước với bố chúng.
- Không được đâu con, chồng đâu vợ đó. Có vợ bên cạnh mà còn nhiều chuyện không hay xảy ra, huống hồ. Vả lại, ở lại với mẹ bao lâu ? Ai lo cho các cháu còn nhỏ quá, chồng con cũng phải đi làm nuôi gia đình chứ ai nuôi không mình đâu. Con đừng lo gì cho mẹ hết. Ðến từng tuổi nầy rồi, mẹ còn sáng suốt, đi đứng chưa đến nổi nào, mẹ còn có các cháu họ hàng sống từ nhỏ với mẹ, bà con ruột thịt ở gần đây. Mẹ gần chín mươi tuổi rồi mà, vậy thì việc về với ông bà ở đây tiện lợi hợp lý hợp tình hơn đó con. Thương là thương cho con từ nhỏ đến giờ chưa bao giờ sống xa mẹ, còn mẹ không còn dịp chia vui buồn trực tiếp với con cháu trong tuổi gần đất xa trời nầy. Nhưng rồi sớm muộn gì cũng phải chia tay mà con.

Ba năm sau, bốn mẹ con Mây cũng được rời khỏi đất nước. Trong thời gian chờ đợi ấy, mẹ Mây luôn tỏ ra bình tỉnh trước mọi tình huống.Thủ tục xuất ngoại thời bấy giờ cũng gây phiền toái lắm nhưng mẹ cứ khuyên chuyện nào phải làm thì phải kiên trì nhẫn nhục mà làm, mẹ không bao giờ tỏ ra giận buồn gì lìa con xa cháu dù mẹ biết rằng tuổi đời mẹ như ngọn đèn dầu trước gió.

Mẹ cũng không theo tiễn con cháu ra phi trường như trước kia mẹ cũng không đưa con lên đi học Trung học ở Saigon, mẹ bảo không muốn làm con bận bịu, mẹ muốn con mẹ ngắm nhìn ra phía trước, mẹ cầu nguyện hy vọng may mắn và hạnh phúc theo dõi bước chân cháu con, tương lai mở rộng tốt đẹp hơn, tầm nhìn con người phóng khoáng cao cả hướng thiện, sống làm sao cho sống ra con người sống có tình người.

Bây giờ trên hai mươi ngày giỗ qua rồi, ký ức vẫn còn đó, có những kỷ niệm phai mờ nhưng không bao giờ bôi xóa được. Thế giới thay đổi cực kỳ nhanh chóng, tất nhiên tâm hồn con người cũng khó không xoay chiều như chong chóng bông vụ con cù. Ngày xưa, gia đình là tổ ấm, cha như là vách ngăn rào chắn, mẹ là bờ vai. Phong tục tập quán là bờ dậu hàng tre. Tất cả đó như là những sợi giây thiêng liêng vô hình ràng buộc với cội nguồn dân tộc, tập giữ chân con cháu theo vết bước cha ông.

Không biết lực phóng tiến bộ trên mọi mặt đưa con người về đâu ? Từ khám phá nầy đến sáng kiến siêu vi khác, học thuyết xã hội, chính trị, tâm linh thâm sâu rộng mở, cộng thêm ngọn gió tự chủ độc lập bình đẳng tự do, theo lý thuyết ý tưởng chân chính là phục vụ nhân loại hòa bình tương trợ, nhưng trên thực tế, cái vòng sinh bệnh lão tử vẫn còn xoay tít chẳng dừng, chiến tranh lạnh nóng với chiếc lưỡi hái Tử thần hăm he du di không ngừng từ Ðông sang Tây xuống Nam lên Bắc. Không biết có phải lý tuởng của con người quá cao vời vợi đưa giấc mộng cầu toàn bá chủ lên tận mây xanh mà không nhớ để ý đến cái Tâm trọng yếu hay không ? Nếu lòng người còn ích kỷ chao đảo bất an, hòa bình không bao giờ yên vị được, chiến tranh leo thang nhanh theo.

Ngày nay, chẳng những ?cái tôỉ không bị ghét bỏ trái ngược với ?le moi est haỉssablẻ của Pascal thôi mà còn được đề cao tột bực. Hy vọng rằng con người sinh vật siêu đẳng nhất mọi loài, ý thức vai trò cốt yếu cực kỳ quan trọng của mình đối với tập thể, nhân loại, quyết tâm phấn đấu sử dụng cái tôi thông minh khôn ngoan và cái tâm thiện có lương tâm của mình vào việc bảo vệ môi sinh, duy trì phát triển sự sinh tồn phồn vinh an lạc giống người trên quả bóng màu xanh tuyệt đẹp luôn khoe sắc trong không trung vô tận nầy.

Trần Thành Mỹ

Mục Lục


5. Phân Loại Tục Ngữ Ca Dao


Phạm hy Sơn


Tục ngữ ca dao là những tiếng chỉ chung văn chương bình dân từ nhiều đời tích tụ lại . Loại văn chương bình dân này bao gồm : ngạn ngữ, thành ngữ, tục ngữ, châm ngôn, cách ngôn, phương ngôn, đồng dao (những bài hát của trẻ con), ca dao .

1- Ngạn ngữ : Giáo sư Dương quảng Hàm trong Việt Nam Văn Học Sử Yếu định nghĩa ngạn ngữ là câu nói của người xưa để lại . Ðịnh nghĩa như thế quá bao quát vì câu nói nào (phương ngôn, châm ngôn, tục ngữ . . . ) mà không do người xưa để lại . Ðể sự phân biệt được rõ ràng, thiét nghĩ nên định nghĩa ngạn ngữ là câu nói của người xưa để lại diễn tả trực tiếp - với nghĩa đen, không có nghĩa bóng - về một sự, một vật nào đó :

-Ếch tháng ba, gà tháng tám (ngon, béo) .

-Ăn cơm lựa thóc, ăn cóc bỏ gan (gan cóc rất độc ) .

-Cháu bà nội, tội bà ngoại .

-Khôn đâu đến trẻ, khoẻ đâu đến già .

-Mất lòng trước hơn được lòng sau .

-Của một đồng, công một nén . . . .

2-Thành ngữ là câu nói phần lớn ngắn, gọn, rõ ràng nhưng ý nghĩa của cả câu lại khác hẳn với nghĩa đen của những tiếng (chữ) kết hợp lại :

-Trắng tay : mất hết .

-Tay trắng : không có của cải, tiền bạc (tay trắng làm nên

cửa nhà ) .

-Trắng mắt ra : mở mắt ra mà nhìn sự thất bại .

-Ruột để ngoài da : nông nổi, nghĩ gì nói đấy .

-Ăn xổi ở thì : tạm bợ, không lâu bền .

-Dạ cá lòng chim : nham hiểm, khó lường .

-Cá lớn nuốt cá bé : lớn bắt nạt bé, mạnh hiếp yếu .

-Ðãi cứt sáo lấy hạt da,

đại cứt gà lấy tấm : keo kiệt, bủn sỉn .

Hoặc làm cho nghĩa của một chữ mạnh hơn, rõ ràng hơn :

-Dày như mo .

-Dữ như cọp .

-Rát như lửa bỏng .

-Tối như đêm ba mươi .

3-Cách ngôn là lời nói được coi như mẫu mực, khuân phép mọi người phải noi theo :

-Thương nguời như thể thương thân .

-Ðói cho sạch, rách cho thơm .

-Ăn có nhai, nói có nghĩ .

-Giấy rách phải giữ lấy lề .

4-Châm ngôn là lời khuyên răn, dạy bảo :

-Có chí thì nên .

-Có công mài sắt có ngày nên kim .

-Làm người suy tính, xét xa,

Cho tường gốc ngọn, cho ra vắn dài .

Người Việt từ ngàn xưa đã đặt giáo dục lên hàng đầu như ?Gọi dạ, bảo vâng?, ?Liệu cơm gắp mắm ?, ?Ăn trông nồi, ngồi trông hướng? . . . nên những câu cách ngôn, châm ngôn có rất nhiều với mục đích khuyên răn, dạy bảo con cháu ăn ở sao cho thành người tử tế, có tư cách, khôn ngoan, lịch sự trong giao tế, ý tứ, khuyên dạy thanh niên luyện chí hào hùng để giúp ích cho bản thân, cho đời, cho đất nước .

5-Phương ngôn là câu nói của địa phương hay liên quan đến địa phương :

-Rau lang ăn với củ lang,

Ở đâu sung sướng bằng làng (Nguyệt) tôi .

-Cối làng Tông, chuông đồng làng Ðống, cua Phụng Pháp, rau

muống Hiên Ngang .

-Bặc Liêu là xứ quê mùa,

Dưới sông cá chốt, trên bờ Triều Châu ( Ca dao Bặc Liêu).

-Bến Tre biển rộng sông dài,

Ao trong nuôi cá, bãi ngoài thả nghêu (Ca dao Bến Tre) .

6-Tục ngữ : Tục là thói quen, nếp sống có từ lâu đời . Tục ngữ là câu nói về phong tục, tập quán :

-Dâu là con, rể là khách .

-Sẩy cha còn chú, sẩy mẹ bú dì .

-Lấy vợ không treo, que nghèo không mấu .

-Có cưới mà không có treo,

Nhân duyên trắc trở như kèo không đanh .

-Lạy cha ba lạy một quỳ,

Lạy mẹ bốn lạy con đi lấy chồng .

-Tháng giêng ăn tết ở nhà,

Tháng hai cờ bạc, tháng ba hội hè . . . .

7-Ca dao : Giáo sư Dương quảng Hàm định nghĩa ?Ca dao (ca: hát, dao: bài hát không có chương khúc) là những bài hát ngắn lưu hành trong dân gian thường tả tình, phong tục của người nông dân . Bởi thế ca dao cũng gọi là phong dao (Phong: phong tục )nữa .(VNVHSY trg 15, Bộ QGGD xb 1958) . Có lẽ vì quan niệm như vậy nên hầu hết những tác giả viết về ca dao dựa vào Kinh Thi, một trong năm kinh dùng dạy Nho sĩ, chia cách diễn tả làm 3 loại : phú, hứng và tỷ . Thực ra ca dao của chúng ta không hẳn chỉ tả tính tình, phong tục mà bao trùm mọi khía cạnh của cuộc sống từ tôn giáo, triết lý, đạo đức, luân lý, giáo dục, thời tiết, thời vụ, cách trồng trọt . . . nên có nhiều cách diễn tả khác nhau không hẳn nằm trong 3 cách diễn tả nói trên :

* Tôn giáo : -Dù ai nói ngược nói xuôi,

Ta đây vẫn giữ đạo trời khăng khăng .

-Ðừng cậy khoẻ, chớ khoe giàu,

Trời kia còn ở trên đầu còn kinh .

-Của Trời, Trời lại lấy đi,

Giương hai mắt ếch làm chi được Trời .

* Triết lý : -Dã tràng xe cát biển Ðông,

Nhọc nhằn mà chẳng nên công cán gì .

-Ðời người khác nữa là hoa,

Sớm còn, tối mất, nở ra lại tàn .

-Núi kia ai đắp mà cao,

Sông kia biển nọ ai đào mà sâu ?

* Ðạo nghĩa : -Ăn quả nhớ kẻ trồng cây,

Ăn gạo nhớ kẻ đâm, xay, giần, sàng .

-Ơn cha nặng lắm anh ơi,

Ơn mẹ bằng trời, chín tháng cưu mang .

* Giáo dục : -Cá không ăn muối cá ươn,

Con không nghe lời cha mẹ trăm đường con hư .

* Thời tiết : -Én bay thấp mưa ngập bờ ao,

Én bay cao mưa rào lại tạnh .

-Mồng tám tháng tám không mưa,

Bán cả cày bừa mà lấp lúa đi .

* Thời vụ : -Tháng chạp là tiết trồng khoai,

Tháng giêng tồng đậu, tháng hai trồng cà .

Tháng ba cày bở ruộng ra . . . .

*Cách trồng trọt: -Cấy thưa thừa thóc,

Cấy dày cóc được ăn .

-Thừa mạ thì bán,

Chớ có cấy rám ăn rơm .

-Lúa mùa thì cấy cho sâu,

Lúa chiêm thì gảy cành dâu mới vừa .

*Phong Tục : -Dù ai buôn bán đâu đâu,

Mồng mười tháng tám chọi trâu thì về .

-Thật thà cũng thể lái trâu,

Yêu nhau cũng thể nàng dâu mẹ chồng .

Trở lại với 3 cách diễn tả ca dao trong Kinh Thi (phú, hứng, tỷ) mà những nhà nghiên cứu văn học Việt Nam dựa theo . Giáo sư Thanh Lãng (GS Ðại Học Văn Khoa Sàigòn) trong cuốn Văn Chương Bình Dân viết : ?Ðứng về phương diện kỹ thuật, ca dao thường được cấu tạo theo ba thể :

a)- Thể phú : Phú là phô bày, mô tả . Trong thể này, muốn nói về người nào, việc nào thì nói thẳng ngay về người ấy, việc ấy; ta có thể nói là một lối tả chân .

Ngang lưng thí thắt bao vàng,

Ðầu đội nón dấu vai mang súng dài .

Một tay thì cắp hoả mai,

Một tay cắp giáo quan sai xuống thuyền .

Thùng thùng trống đánh ngũ liên,

Bước chân xuống thuyền, nước mắt như mưa .

b)- Thể tỉ - Tỉ : ví, so sánh . Trong thể này, tư tưởng không được diễn tả một cách trực tiếp, mà diễn tả qua một sự vật đứng làm tĩ ngữ . Người ta tự ngẫm nghĩ tìm hiểu lấy cái ý ngụ ở trong .

Bầu ơi, thương lấy bí cùng,

Tuy rằng khác giống nhưng chung một giàn .

c)- Thể hứng : -Hứng: nổi lên . Con người nhân cảm hứng sự vật mà phát lộ tâm tưởng . Trong thể này, công việc mô tả sự vật chỉ là một lối chuyển ý nhẹ nhàng đưa độc giả đến những tình, ý mình muốn diễn giải .

Trên trời có đám mây xanh,

Ở giữa mây trắng, chung quanh mây vàng .

Ước gì anh lấy được nàng,

Thì anh mua gạch Bát Tràng về xây.

Xây dọc rồi lại xây ngang,

Xây hồ bán nguyệt cho nàng rửa chân .

(Thanh Lãng, Văn Chương Bình Dân, xb 1954, trang 87)

Ba thể kể trên không phù hợp hay đúng hơn là không đủ cho ca dao của ta, ngay cả ca dao về phong tục, như những câu sau đây :

-Chồng cô, vợ cậu, chồng dì,

Trong ba người ấy chết thì không tang .

-Lạy cha ba lạy, một qùy,

Lạy mẹ bốn lạy, con đi lấy chồng .

Ðây là một qui định trong phong tục, lời lẽ chặt chẽ, mạch lạc, khô khan như một điều khoản của bản văn luật pháp . Những câu ca dao về châm ngôn, thời tiết ? có nhiều câu không dùng 3 cách diễn tả của Kinh Thi :

-Dạy con, con chẳng nghe lời,

Con nghe ông hểnh đi đời nhà con .

-Làm trai cho đáng nên trai,

Xuống đông đông tĩnh, lên đoài đoài đoài tan .

-Gió đông là chồng lúa chiêm,

Gió bắc là duyên lúa mùa .

-Mồng chín tháng chín có mưa,

Mẹ con đi sớm về trưa mặc lòng .

Mồng chín tháng chín không mưa,

Mẹ con bán cả cày bừa mà ăn ? .

9-Ðồng Dao: bài hát của trẻ con (đồng: trẻ con), các em hát khi tụ tập chơi với nhau :

-Ông giẳng, ông giăng,

Ông giằng búi tóc,

Ông khóc, ông cười,

Mười ông một cỗ,

Ðánh nhau vỡ đầu,

Ði câu hàng huyện,

Ði kiện hàng phủ,

Một lũ ông già,

Mười ba ông điếc .

-Phụ đồng chổi,

Thổi lổi mà lên,

Ba bề bốn bên,

Ðồng lên cho chóng .

Nhược bằng cửa đóng,

Phá ra mà vào,

Cách chuôm, cách ao,

Cách ba ngọn rào,

Cũng vào cho lọt .

Cái roi von vót,

Cái vọt cho đau .

Hàng trầu, hàng cau,

Hàng hương, hàng hoa,

Là đồ cúng Phật.

Hàng chuối, hàng mật,

Hàng kẹo mạch nha,

Nào cô bán quế,

Vừa đi vừa tế,

Một lũ học trò .

Người cầm quạt mo,

Là vợ ông chổi .

Thổi lổi mà lên ? .

10-Các loại dân ca như Quan Họ Bắc Ninh, hát Trống Quân, hát Bài Chòi, Hát Ví, Hò . . . đều xuất phát từ ca dao nhưng thuộc lãnh vực âm nhạc .

( Trích trong Sơ Khảo về Tục Ngữ Ca Dao)


Phạm hy Sơn

Mục Lục


6. Tâm Sự Người Tuổi Hoàng Hôn Xa Xứ


Song An Châu

Văn

Tôi ở Mỹ sao nghe buồn quá, chẳng thấy gì vui lúc cuối đời. Con cháu giờ đây đã lớn khôn rồi, mỗi đứa gia đình ở mỗi nơi. Tuổi già bóng xế chỉ nằm ngồi, ra vào ngoài ngõ trông lên trời, nhìn vầng mây trắng thảnh thơi trôi. Phải mình được như vầng mây trắng, trôi bốn phương trời để thảnh thơi. Không chỉ ở đây căn nhà vắng, nhìn quanh, nhìn quẩn chỉ mình tôi.

Giờ đây chịu cảnh phải xa nhà, ở Mỹ mà tôi sao buồn quá, ngồi nhìn xe cộ chạy mau qua. Nhớ lại ngày xưa ở quê nhà, nơi vùng sông nước Hậu Giang ta, với chiếc xuồng con bơi theo lòng rạch, hái bông điên điển đem về nhà, nấu nồi canh chua, con cá lóc, với tộ cá rô kho nước dừa, bữa cơm đạm bạc, sao ngon quá.

Bây giờ da diết nhớ chuyện xưa, ở đây cuộc sống đã dư thừa, vật chất phủ phê, nhưng vẫn thấy thiếu. Thiếu tình, thiếu nghĩa, thiếu yêu thương. Bỏ nước ra đi tưởng chung đường, nhưng qua xứ lạ rồi ai nấy, cắm đầu cắm cổ kiếm đồng tiền, xênh xang giàu có rồi lên mặt, mất tình mất nghĩa mất yêu thương.

Cuối đời lại nhớ đến quê hương, ngồi nhìn mây trắng trôi bàng bạc, con hạc kêu chiều vọng cố hương, nghìn trùng xa cách chưa về được. Vọng tưởng ngày về nơi quê cũ, nhìn khoảng trời xanh ở sau vườn, nhìn hàng cau,

ngọn đơm bông trái, hái lá trầu xanh ngoại đã trồng. Bây giờ ngoại mất, mất người trông, chăm lo tưới nước cả việc vun trồng, tỉa lá trầu ngon đem ra chợ bán, mua trà, mua thuốc, mua rượu về cho ông. Nay ông cũng đã về chín suối, chắc gặp bà tôi lúc lìa đời, thiên đàng hạ giới đâu ai biết, nếu có gặp nhau cũng vui rồi!

Bao năm xa xứ nhớ quê nhà, nhớ đàn em nhỏ, nhớ mẹ già, nhớ trường làng cũ ngày đi học, cùng bạn vui đùa dưới góc đa. Nhớ những trưa hè, ngày nắng hạ, cùng bạn bè đánh đáo, bắn bi, những trò chơi vui, không thiếu gì, thời trẻ thơ sao vui vẻ quá !

Ngoài đời, người ta thường nói khi già nhớ đến chuyện xưa, nhớ lại thời mình chưa già, còn son trẻ. Bây giờ, tuổi mình đã quá ?thất thập cổ lai hỷ không còn gì nữa, như ánh sáng mờ nhạt của buổi hoàng hôn chờ ánh chiều tắt nắng, không còn vui cười như thời trẻ, chỉ là những tháng ngày buồn tẻ sống cho hết đời này, rồi mai đây cũng trở về cát bụi. Thôi rồi một kiếp trần ai, cũng xong một đời nơi dương thế?.

Song An Châu

Mục Lục


7. Vầng Trăng Bên Sông


Sông Cửu




(Theo lời kể Lê Ngọc Quế Anh)

1.

Dòng sông quê tôi ngoằn ngoèo, tháng - năm bên bồi - bên lở . Nội kể thuở nội còn con gái, lòng sông chỉ là cái lạch nhỏ do nước đổ dài theo lối dấu chưn đi của bầy rái tạo thành. Khi nước ròng sát, xăn quần lội qua ngang không ướt. Vậy mà lúc tụi tui lên tám thì nó rộng phìn ra, bề ngang có chỗ đến mười hai, mười ba thước, tàu ghe ngược xuôi tắp nập, nhà cửa san sát chen chút ven bờ. Chiều chiều nước lớn người từ đồng ruộng trở về tắm giặt, bơi lội khiến hai bên bờ sông càng náo nhiệt thêm . Những đêm sáng trăng má thường dẫn tôi lên trên cầu mát ngồi nghe tiếng hò lảnh lót của chị Bảy đưa đò :

" Hò ơ . . . Ðầu nhà có ba buội dúi
Cuối nhà có cội cây đa . . . ơ . . .
Anh đi đâu nhớ ghé lại nhà . . . hò
Trước thăm phụ mẫu . . . hò ơ . . .
Trước thăm phụ mẫu . . . Sau là thăm em . . . ơ !

Cuộc sống bình an, giản di, mộc mạc của người dân quê tôi năm xưa là như thế. Vậy mà trãi qua bao "vật đỗi sao dời" , tôi vẫn không đời nào quên được . Ði đâu vài ba ngày tôi cũng nhớ con sông , nhớ quê . Tôi thầm nghĩ, nếu không có dòng sông, thì bà con "hai sương một nắng" quê tôi không biết trút nỗi nhọc nhằn cơ cực nơi nào ?! Hồi đó, nếu có ai hỏi: "Quê hương là gì ? Chắc chắn tôi sẽ trả lời không chút đắn đo: CON SÔNG và VẦNG TRĂNG. Ôi! Vậy mà bây giờ vì một hoàn cảnh "nghịch lý" thúc đẩy tôi phải đành xa nó... Nhưng tôi luôn luôn thầm thương trộm nhớ nó! Tôi luôn tạ ơn Ðấng đã tạo dựng ra nó. Tôi nghĩ. Có nó; Dòng sông và vầng trăng và con người sẽ sống yên lành và nhân ái hơn.

Hò ơ... Chèo ghe bẻ bắp bên sông
Bắp chưa cứng hạt bẻ bông làm cờ.

Niềm vui tuổi thơ của tôi được cất giữ trong hai câu hò dễ thương nầy. Bãi bồi bên kia sông là thôn Giồng-Ðồng quê ngoại tôi. Từ Hè đến Thu, rẫy bắp trồng nối dài thoai thoải .Qua mùa nầy, nguồn vui đám trẻ con chúng tôi nâng lên gấp đôi ngày tư, ngày tết. Ðêm sáng trăng lũ nhãi ranh xóm tôi cũng tụ tập ra đây đủ mặt. Lũ con trai bên kia sông theo cậu Năm . Ðám con trai bên nầy sông theo chú Út, dàn quân hai bên chơi trò "Cờ Lau Tập Trận", mê lắm. Cậu Năm và chú Út giao: bên nào thua phải vào rẫy của mình bẻ bắp về đãi bên thắng... Còn bọn con gái chúng tôi thì làm "em gái hậu phương", chia nhau đi lượm củi khô, ôm rơm ra bờ sông chờ đoàn quân thắng trận mang bắp trở về .

Trăng vừa mọc lên là trận chiến mở màn. Hạm đội "ghe tam bản" của chú Út nhắm thẳng mục tiêu rẫy bắp tiến công. Chiến thuyền "xuồng ba lá" của cậu Năm tôi cũng dàn quân dọc bên kia bờ sông để đánh trả. Tiếng kèn lá, tiếng hò reo hòa với tiếng trống thúc quân bằng thùng thiếc giục giã liên hồi. Hai viên "Tư Lệnh" chú Út và cậu Năm đứng trên cầu lượt trận chấm điểm ai thua, ai thắng. Khi ánh trăng treo lơ lửng trên ngọn cây quéo đầu làng, là lúc chiến trận kết thúc. Ðám "Em Gái Hậu Phương" tụi tui cũng bắt đầu đốt lửa. Số bắp trái bên thua trận bẻ mang về đều để nguyên vỏ bỏ vào lửa nướng. Vị ngọt của bắp tỏa thơm ngây ngất. Bọn con trai mình sũng ướt, đầu còn đội mão xanh làm bằng lá bắp có cắm cờ lau, ồn ào, ca hát, nhảy múa quanh lửa như những người rừng. Ðầu đảng trong đám tiểu yêu phía cậu Năm tôi là một anh chàng nhóc có biệt danh là Thanh "Cào Cào" bởi cặp giò dài khi đi cũng như chạy của anh ta. Ðêm nào Thanh cũng lén bẻ thêm một trái bắp dành riêng đem tặng cho tôi (Lén,vì cậu Năm và chú Út dặn mỗi đứa chỉ bẻ 1 trái thôi) Anh ta học trên tôi mấy lớp . Khi tôi học lớp ba trường làng thì anh ta học lớp nhứt trường tỉnh . Vậy mà lúc nào anh chàng cũng gọi tôi bằng "Cưng" , làm như người ta là con nít còn bồng. Ghét nhứt là mỗi lần đưa bắp cho tôi, anh ta chống nạnh hai tay bảo giọng kẻ cả:

- Huệ! Cho cưng nè. Ăn đi. Ngoan!

Tôi trừng mắt cự lại:

- Bắp ăn cắp... Ai thèm !

Tụi con gái cười rần rần chọc quê... Tôi tưởng anh ta nổi quạu, ai ngờ anh ta tỉnh bơ. Còn nhăn răng cười nữa chớ. Thấy dễ ghét!

Ðêm khuya. Con nước rông, làm dòng sông mênh mông . Bắp nướng chín, cả bọn xúm lại chia nhau, xít xoa cạp nóng quanh ánh lửa bập bùng. Tiếng ca hát, tiếng trò chuyện quyện thơm với mùi bắp nướng ngập tràn hương vị quê tôi !

3.

Có niềm vui nào chẳng tàn đâu. Tuổi thơ dù đẹp mấy rồi cũng qua. Những năm lên Trung học. Cứ mỗi lần gần tới Hè, thì bọn tôi lại nôn nao muốn được mau về thăm lại dòng sông trăng thân yêu quê tôi. Thỉnh thoảng tôi cùng mấy nhỏ bạn rủ nhau đạp xe ra bến Bạch Ðằng để xem tàu và ngắm trăng lên từ bên kia bờ Thủ Thiêm. Ðứa nào cũng bảo: "Trăng Sài Gòn không đẹp bằng trăng quê mình!" Năm vừa học xong Ðệ Nhị thì bà nội gọi tôi về. Vì theo quan niệm xưa của bà là con gái dù học giỏi đến đâu rồi cũng phải về "làm dâu" cho thiên hạ thôi. Tôi xin ba cho học tiếp, ba bảo không dám cãi lời nội. Thấy tôi khóc, cô tôi cằn nhằn ba tôi:

- Con nhỏ đang học giỏi. Khi khổng khi không cậu bắt nó bỏ học. Cậu mợ sợ hao tốn để chị lo cho nó .

- Ðâu phải ý vợ chồng em. Ba tôi nói - Nội nó định gả nó cho thằng Thanh, con thầy giáo Nho ở Tân Hào đó. Cậu Năm nó làm mai. Ngoại nó cũng bằng lòng rồi. Vợ chồng em cũng muốn để cho nó học tới nơi, tới chốn như ý chị, nhưng ai dám cãi má ?

Nghe ba nói tôi tức cậu Năm xanh mặt. Khi không đi làm mai làm mối gã cháu cho cái ông tướng "Cào Cào" nầy hè...Nhớ lại trò chơi "Cờ Lau Tập Trận", Thanh Cào Cào bẻ bắp tặng tôi, gọi tôi bằng "cưng", bị mấy nhỏ chọc quê, tôi tức cười nhưng cố cắn chặc môi dằn lại không cười. Cô tôi nhìn thấy tưởng là tôi tức giận nên đến vuốt tóc tôi an ủi:

- Thôi, theo ba con về đi. Ðừng cãi lời nội, nội buồn. Ít bữa cô về thưa lại với nội. Biết cô thương nên tôi bướng:

- Gả chồng... Con không thèm chịu đâu. Cô tôi cười rồi dỗ ngọt:

- Cháu là đứa con ngoan. Không nghe lời nội để mang tội bất hiếu à ? Lời răn của Chúa là phải hiếu kính với ông bà cha mẹ. Con quên rồi sao? Bà nội thương, lo cho con, con phải biết hiếu thảo chớ. Ý con thế nào, thì về tỏ bày cho nội biết. Ép dầu ép mỡ chứ ai nỡ ép duyên. Con gái đừng ăn nói ngang bướng như vậy không nên. Phạm Lời Răn CHÚA buồn con đó...

Nghe cô tôi nhắc LỜI RĂN, lòng tôi bỗng thấy nhẹ hẳn ra. Bao nhiêu nan đề trong thi cử học hành, trong suy tư trăn trở suốt chặng đường của tuổi học trò tôi đều cầu xin Chúa và luôn được Ngài ban cho. Có lần nào Chúa bỏ tôi đâu. Bầy cháu tám đứa, tôi là đứa được nội cưng chiều nhiều nhất . . .Trong lúc đầu óc tôi nghĩ ngợi lung tung thì cô tôi nắm tay bảo tôi qùi xuống. Tôi thấy cô tôi rơm rớm nước mắt .Nhưng bà vẫn lớn tiếng cầu nguyện cho tôi:

- Chúa ơi! Con xin dâng phó định mệnh cháu Huệ và gia quyến con cho Ngài !

Tôi cũng nhắm mắt thầm xin Ðức Chúa Trời an bày cho cuộc đời mình. Và cũng thật lạ lùng, tôi cảm thấy trong lòng vô cùng bình thản. Và tôi ngoan ngoãn theo ba tôi trở lại dòng sông và vầng trăng tuổi thơ của tôi...

4.
"GHÉT CỦA NÀO TRỜI TRAO CỦA ÐÓ"

Kính mời qúi bà, qúi chị, qúi vị nghe lại "mẫu đàm thoại vui" của hai vợ chồng anh Thanh và Chị Huệ bạn học cũ của bà xã tui( người kể lại phần đầu trong câu chuyện nầy).Hiện anh Thanh và chị Huệ đang định cư tại California Hoa Kỳ trong cùng một chung cư với chúng tôi:

Chị Huệ: (đang nói chuyện với Lê Quế Anh thì quay lại gọi chồng)

- Nè! Ông ơi!

Anh Thanh: (Buông tờ báo nhìn vợ)

- Tới nữa... Chuyện gì đây?

Chị Huệ : (cười cười... hỏi giọng thắc mắc )

- Tui đố Ông và chị Anh nghen.Tại sao người già ưa nhắc về chuyện qúa khứ qúa vậy?

Anh Thanh: ( Cười khà...vui vẽ )

- Có gì khó hiểu đâu... Những người giữ niềm tin được sự cứu rỗi của Ðức Chúa Trời như anh chị em mình thì an tâm theo sự an bày của Thượng Ðế. Còn những ai chưa có cơ mai gặp được Chúa, nhất là tuổi cao niên hoặc trung niên, ranh giới giữa sống và chết. Biết chuyện tương lai thế nào nữa mà hỏng nhắc nhiều về quá khứ? Như bà chẳng hạn, nếu không có Thánh Kinh soi dẫn thì tôi nghĩ rằng, chắc tối ngày bà cũng chỉ nhắc "Vầng Trăng Bên Sông - Cờ Lau tập trận - Thanh Cào Cào - Bẻ bắp cho em..." toàn ba cái chuyện đồ cổ thôi. "Cưng" thấy đúng hông ?

Chị Huệ: (Lườm chồng...nhìn chúng tôi cười )

- Xí ! Tui ghét cái tiếng "cưng" cũ mèm đó lâu rồi nghen !

Anh Thanh: (Gật gù, cười khà khà...)

- Ghét đúng thôi. Vì tiếng "cưng" là qúa khứ. Nhưng Anh và anh Tư nghĩ coi . Cái qúa khứ riêng tư nầy nó gắng liền với hiện tại và tương lai. Hồi còn là cô bé răng khểnh, tui lén bẻ bắp nướng cho bả cạp cười chơi, tui cũng gọi là "cưng". Viết bức thư tỏ tình đầu tiên khi bả học xong trung học, tui cũng viết rõ ràng là "Cưng thân yêu !" Rồi từ ngày thành vợ thành chồng đến nay tôi có thay đổi chữ "cưng" hồi nào đâu ? ( Anh Thanh quay sang bà xã tôi ) Có chị Anh biết đó . Lòng dạ tui thẳng ngay vậy đó, chứ ai như bả (!)

Chị Huệ: (trừng mắt)

- Tui làm sao? Tui thay đổi à ?

Anh Thanh: (Tằng hắng, cười cười nói với vợ chồng tôi )

- Ðó! Anh chị thấy chưa ? Bả đổi thay mà bả đâu có hay... Hồi vợ chồng son lúc nào bả cũng gọi Anh ơị..Xưng Em với tôi ngọt xớt. Chừng có đứa con đầu lòng bả đổi tiếng Anh thành ?Mình?. Sanh thêm ba đứa nữa cái bả đổi Mình thành "Ba Sắp Nhỏ". Mới có thằng cháu ngoại nè, mấy tháng nay thôi, bả gắn cho tôi tiếng "Ngoại Thằng BOY" liền. Ði đâu cũng gọi " Ông ngoại ơi . . .Ông ngoại ơi !" Dễ tức ! ( Anh Thanh gật gật đầu cười nhìn chị Huệ hỏi) - Ghét. Sao ưng tui làm chồng? Ghét. Sao có 4 mặt con? Ghét. Sao bỏ Dòng sông - Vầng trăng - rẫy bắp theo người ta qua Mỹ chi vậỷ...Bà lý giải coi tại làm sao ? . . .

Chị Huệ : ( làm mặt nghiêm )

- Thì..."Ghét của nào Trời trao của đó chớ sao". Ai cũng biết . Khỏi lý sự chi dài dòng...

Anh Thanh: (lắc đầu lia lịạ..)

- Trật rồi cưng ơi! Theo tui, định mệnh mỗi con người đều do Chúa an bày . Mưu sự tại nhân - Thành sự do Thiên đồng nghĩa với "ghét của nào Trời trao của đó" như cưng đã nói. Cưng thấy đúng hong? . . .

Chị Huệ : ( mĩm môi , giọng như nói lẫy )

- Ðúng . . .Ðúng tuốt tuột. Ai cải lại mấy người miệng Lưỡi... Nhưng "ông ngoại" làm ơn cho xin lại tiếng "cưng" đi . . .

Vợ chồng tôi và anh Thanh nheo mắt nhìn chị Huệ cười . . .




Sông Cửu

Mục Lục


8. Ngộ Chiêu


Ý Nga và Anh


Truyện ngắn

Bao nhiêu năm qua ông ?dạỷ vợ từ ?nhất chiêủ đến ?thập chiêủ mà vợ vẫn luôn làm ông phật ý.

Hôm nay mới sáng sớm ông đã phải xuất chiêu ?Lả? om sòm, làm bà có cảm tưởng như nhà cửa đang rung rinh trong cơn động đất. Mắc cái chứng chi mà người-muốn-hét chưa nổi cơn thịnh nộ thì thôi ngày ngày lại còn phải nghe mãi thứ âm thanh độc chiêu chói tai này? Chẳng lẽ muốn hãm thanh ?Lả thì phải trổ các quái chiêu ?Mi Ðồ Rế Xí? như hàng xóm cho bị đòn hay sao? Mà người nọ đã hét Tenor (giọng kim, cao), người kia có đem Contralto, Soprano hay Bass (giọng trầm) ra đáp trả thì cũng chỉ ?xấu chàng hổ thiếp? lây thôi. Nhà này mà nói về ?bằng cãi nhaủ thì bà thuộc loại ?vàng?: tốt nghiệp đậu... vớt, hạng... không rớt, thì cãi chi lại ông ?luật sử này

Buồn! Bà cứ một tuyệt chiêu: mỉm cười an nhiên, nhắm mắt làm lơ và niệm thầm tỉnh tâm:

-?Nam mô A Di Ðà Phật?.

Ông la mãi không ai trả lời, sợ có người lảng tai nghe không rõ, ông bèn xăm xăm hùng hổ đến trước mặt, la văng cả nước bọt vào mặt bà, ai ngờ ông thấy bà đang... lần tràng hạt. Xâu tràng hạt đeo tay màu nâu đỏ này ông đã mua tặng bà nhân dịp chùa gây quỹ giúp nạn nhân bị cơn sóng thần Tsunami năm nào, không biết những hạt sần sùi ấy đã được bàn tay bà lần chạm vào bao nhiêu lần mà lên nước bóng loáng?

Thiên hạ bảo ?Trời đánh tránh bữa ăn? nhưng ông mà đã lên cơn tức thì bữa ăn, giấc ngủ gì ông cũng không tránh, trừ phi bà đang ngồi thiền, vì ông sợ bà ?tẩu hỏa nhập mả thì lại mất công người sống vớỉ ma, hay người la chỏ ma nghe thì phiền (đời quân ngũ ?Xông pha lắm cũng gặp mả mà đạn hay ma còn phải tránh ông, không lẽ tuổi chưa già lại muốn gặp? ma sớm?). Ngoài ra, vì bà không theo Thiên Chúa giáo của ông nên khi thấy bà đang thắp nhang khấn vái cho những người thân trong gia đình hai bên (đã chẳng may chết trong tù ngục VC hay trên biển Ðông) thì giận mấy ông cũng im vì ông rất? thất lễ chuyện này, từ bao nhiêu năm nay ông chỉ tưởng nhớ? trong lòng, mọi việc đều một tay bà chu đáo hương khói cho người vô phúc.

Trời xui đất khiến sao hôm nay vừa la hét khản cả cổ mà nhìn mấy giọt nước miếng văng lấp lánh trên đôi gò má gầy gò của bà, rồi nhìn thân hình bé bỏng ngồi ở góc phòng lần tràng hạt ông lại thấy mắc cở quá! Ông bỏ ra phòng khách ngồi chờ, định bụng khi bà xong ông sẽ nhỏ nhẹ phân tích những lỗi lầm mà bà đã làm ông nổi điên sáng nay.

Ðọc báo mãi, đến trưa vẫn chưa thấy bà ra sửa soạn cơm, lúc bụng đói, ông mới nhớ tới bà, nhè nhẹ vào phòng xem động tỉnh thế nào để nhắc chừng cơm nước ?giùm? bà thì thấy bà đã ngoẹo đầu sang một bên ngủ ngon lành rồi. Ông tự nhiên thấy hối hận vô kể! Lòng thương vợ khiến ông nghĩ nên nấu trước nồi cơm điện ?giùm? bà.

*



C ơm sôi, cơm cạn, xới cơm xong, lại chờ thêm một lúc khá lâu mà cô nương của ông vẫn chưa thức. Muốn dành cho vợ một sự ngạc nhiên nên ông xắt hành, phi thơm, làm món trứng chiên. Thấy rổ cải bẹ xanh đã được người nông dân không chuyên nghiệp hái và rửa sạch ông bèn luộc rau, và dầm vào nước rau một trái cà chua, vắt thêm nửa trái chanh làm món canh luôn. Cơm vừa chín tới thì dĩa rau, trứng chiên và canh cũng được dọn ra bàn đủ màu sắc xanh, đỏ, vàng với chén, đũa sẵn sàng mà bà vẫn còn ngủ nên ông lẳng lặng rửa sạch mớ chén bát ?giùm? bà.

Rửa xong, vào thăm chừng, người đẹp vẫn say giấc, ông trở ra, thấy cái bếp bề bộn dưới ?tàỉ nấu nướng của hỏa đầu quân? nhà binh nên ông lau ?giùm? bà cái bếp cho sạch sẽ, cất ?giùm? số trứng còn dư vào tủ lạnh, rồi tiện tay cho hết thớt, dao chén bát vừa rửa xong vào tủ cất luôn ?giùm? cho gọn gàng, dù chúng còn ướt nhẹp nước và chúng đã đặt sai vị trí, thế nào mai đầu bếp chính cũng đi tìm khùng luôn cho mà xem.

Rồi!

Lạỉ chờ!

Càng chờ càng sốt ruột mà nhìn xuống sàn bê bết những nước, dầu, vỏ củ hành, rau, muối, tiêụv.v? đã vung vải thấy bắt? ghét nên ông quét nhà và lau ?giùm? cô công chúa cái sàn. Bây giờ ông đem phơi mớ giẻ lau ngoài vườn xong sẽ vào thỉnh hoàng hậu dậy ăn cơm, chứ để nàng nằm lâu thế kia thì đêm nay nàng sẽ mất ngủ, vả lại, mùi thơm của trứng chiên làm ông cũng cồn cào cả bụng rồi.

Phơi khăn xong, thấy ?con dao bổ caủ bén ngót của bà lẫn lộn trong luống cải bẹ xanh nguy hiểm quá, ông cúi nhặt, tiện tay nhổ mớ cỏ dại quanh đó. Tiện mắt, thấy cái vỏ cam, ông mới nhớ bà đã nhờ ông đào giùm hố chôn vỏ trái cây mấy tuần rồi mà ông chưa làm, ông bèn thảy con dao trở xuống mà đào ?giùm? bà. Xong việc, tiện cuốc, hứng chí, ông bèn bứng ?giùm? bụi rau húng èo uột ở góc đất xấu xa, ra nơi đất tốt mà bà ước ao.

Và cứ thế, tiện cuốc, tiện xẻng, tiện người, tiện tâm muốn chuộc lỗi ông cứ lan man ?giùm? nọ sang ?giùm? kia cả mấy tiếng đồng hồ hồi nào ông không hay, khi bụng kêu ọt ọt ồn ào ông mới thắc mắc: sao hôm nay bà ấy ngủ li bì vậy? Hay bà bị gì rồi? Nghĩ thế, ông thảy cuốc, xẻng xuống, chạy băng băng trở vô, quýnh quáng làm sao chân ông lại xóc vào con dao lúc nãy nghe đau điếng nhưng ông cứ tuôn vào nhà mà không biết máu me đã chảy đầy chân.

Bà nằm yên, một sự yên lặng bất bình thường chứ không như những lúc ông la ỏm tỏi, ỏm hành mấy tiếng đồng hồ. Nhìn bà vẫn ngoẹo đầu như lúc nãy mà ông thấy thương quá! Mấy tiếng như thế thì không chừng sẽ trật cổ mất thôi. Ông nhẹ lật ngửa khuôn mặt bà ra, định hôn bà một cái cầu hòa trước bữa cơm chuộc lỗi ?tươm tất? do chính ông nấu nhưng ai ngờ bà đã? cứng đơ, ông tức tốc ẳm bệnh nhân lên xe và vừa bấm kèn xe vừa phóng hết tốc lực thẳng ra bệnh viện ngay.

Khu cấp cứu hôm nay không đông người nên các bác sĩ làm việc rất nhanh. Cũng may là còn kịp! Áp huyết bà xuống quá thấp mà bà lại dang (giang?) nắng làm vườn liên tục trong mấy ngày khí hậu nóng bức. Thế là một công hai việc, các bác sĩ vừa chữa cho bà vừa băng bó vết thương chân cho ông luôn.

*



M ở mắt nhìn lên trần nhà, bà ngạc nhiên thấy khung cảnh sao mà lạ hoắc, nhìn xuống, thấy chồng đang ngồi ngủ gà, ngủ gật bên cạnh giường, bàn tay ấm áp lại đang nắm tay bà, bà ngơ ngác giật giật tay ông, ông mở mắt, mừng rỡ giải thích từ từ mọi chuyện. Khác với ở nhà, ông chỉ nói nho nhỏ vừa đủ nghe, còn bà cười cười thì thầm đáp trả vài câu.

Cả ngày ông phải uốn lưỡi muốn sái quai hàm với những danh từ y khoa chuyên môn, mà ông dốt đặc, để giải thích về bệnh sử của bà cho các bác sĩ, y tá Canadian nghe, bây giờ ông mới nghe lại được tiếng Mẹ với một âm thanh dịu dàng quen thuộc từ lâu đã bị ông lảng quên. Khi ông hỏi:

-Em có giận anh không?

Bà trả lời:

-Anh nè! Tai của em thính giác còn nghe được, răng anh còn đầy đủ, sao anh không nói những lời ngọt ngào cho em nghe? Mai mốt em nghe không được nữa, răng anh rụng hết, móm mém, nói gì cũng trọ trẹ khó nghe thì lúc ấy hãy tha hồ mà ra vườn la hét, phun nước miếng tưới cây; còn bây giờ anh cần chi thực tập sớm mà phun lên mặt em vậy cho mau già? May là anh chỉ bị dao khứa chân nhè nhẹ chứ rủi mà lúc nãy té gãy hết hàm răng thì không chừng hôm nay anh đã có thể... phun nước miếng phèo phèo... tưới rau rồi, biết đâu mình... tiết kiệm được mớ tiền nước mùa hè này cho chính phủ.

Câu nói dí dỏm bất ngờ làm ông bật cười to. Ðây là lần đầu tiên trong 36 năm chung sống ông đã nghe hết một câu nói trọn vẹn của bà mà không ngắt lời nửa chừng

Bà trố mắt nhìn ông, ở nhà ông hét to có một mình bà nghe, vô đây ông đâu có muốn ai nghe mà sao ông lại cười to thế? Hóa ra cười thì muốn... mọi người nghe, còn... hét thì chỉ muốn mình... vợ nghe thôi, thảo nào tai của vợ ngày càng có vẽ mất... thính giác!



Ông mân mê chiếc vòng tràng hạt trên cổ tay bà một lúc rồi chồm người hôn lên trán bà một cái thật âu yếm và đùa:

-Mô Phật! Lạy Chúa tôi!

Rồi ông tháo vòng tràng hạt của bà ra và vừa lần tràng hạt ông vừa lẩm nhẩm đọc lời đa tạ Ơn Trên đã cho ông còn có bà trong cuộc sống.

Bà nằm yên nghe ông cầu nguyện, được một lúc lại ngủ thiếp đi, ông ngồi đăm chiêu nhìn người bệnh. Thấy mà thương!

*



C ú ?hậu chiêủ vừa rồi đã trở thành ?tàn chiêủ hôm nay. Không ngờ ?liên hoàn chiêủ của ông trong ngần ấy năm tu luyện đã chỉ là ?hư chiêủ vô tích sự trước một ?hữu chiêủ im lặng dạy ông bài học quá lớn trong đời về chữ NHẪN của vợ.

Thôi!

Từ nay cần chi tới ?thuận chiêủ hay ?đảo chiêủcho mệt!

Chắc là ông đành phải lên núi mà ?mai danh, ẩn tích? mất thôi! Ông tự hứa:

-Kiếp sau không dám lấy vợ con nhà võ nữa!

Suốt hai năm bị thử rể, ba vợ ông đã cảnh cáo ông một ?dị chiêủ rồi:

-?Chú? phải biết rằng ngoài gia đình, họ hàng, láng giềng và bạn bè hai bên ra, còn có Trời Phật lo cho hai ?chú? nữa. Liệu mà để lại âm đức!

(Ba gọi ai cũng bằng ?chú?, dù là phái nữ, kể cả đám con cháu trong nhà)



Dưng không ông? ngộ ra rằng hạnh phúc vợ chồng chỉ đơn giản là sự chia sẻ trách nhiệm chung, hiểu nhau và thông cảm cho nhau trước những lỗi lầm.

Ông tự hứa lòng: chiều về sẽ tìm đọc cuốn ?Ngộ? của một vị chân sư đã tặng lâu rồi mà ông chưa hề lật đến một trang nào.

8-7-2015


Ý Nga và Anh

Mục Lục


9. Lòng Người


Hai Hùng SG


Truyện ngắn : Tác giả : * * *
"Dò sông dò biển dễ dò.
Nào ai lấy thước mà đo lòng người"
(Ca dao)
---

Từ hôm ông Phát thôi không còn đi làm như mọi ngày nữa, do vướng vô mấy "phi vụ" làm ăn Riêng lẻ nên ông bị cấp trên cảnh cáo bắt nộp lại tiền bạc rồi cho "về vườn", tuy không còn những ngày "Lên xe xuống ngựa" và đã qua rồi cái cảnh "Nhất hô bá ứng" của ông, nhưng ông cũng chẳng lấy gì làm buồn, vì trước khi về vườn thì ông cũng đủ thời gian "thủ cẳng" cho mình một số vốn kha khá để sống cho qua những ngày tháng còn lại.

Ðàn em dưới trướng nhiều đứa tỏ vẻ là người có trước có sau, ngày nào cũng có vài ba thằng đến nhà, họ mang theo rượu bia và mồi nhậu đến để giải khuây cùng ông, khỏi phải nói ông và bà Phát thấy được cái ân tình kỷ niệm của đám đệ tử ruột đối với mình không hề suy suyển nên trong một hôm ngà ngà say ông vỗ vai thằng Dũng ( một đàn em thân tính và nịnh ông rất khéo), ông Phát nói :

- Thiệt tình mà nói nghe Dũng, trong đám anh em mình bấy lâu nay đến giờ anh mới thấy chú mầy là đứa có tình có nghĩa với anh, chẳng bù những đứa ngày trước anh nâng đỡ nhiều mà giờ chẳng thấy nó vác cái mặt đến để an ủi anh, chắc bọn nó nói anh "hưu" rồi nên không còn "xơ múi" gì được nữa nên "hô biến" luôn, giá mà biết vậy ngày xưa anh chẳng cho thằng Nam làm sếp của Dũng, anh đưa Dũng lên luôn giờ có phải vui không.

Nói xong câu này ông Phát đưa mấy nhìn thằng Dũng dò xét xem thái độ nó như thế nào, nó có cảm động với câu nói ông vừa thốt ra không, phần thằng Dũng trong bụng nó nỗi Sùng khi nghe ông Phát nhắc lại việc này, vì có thời gian nó chắc mẽm chức trưởng phòng tài vụ phải nằm trong tay mình, thằng Nam so với thành tích "Ðiếu đóm" cho sếp làm sao qua nó cho được, rồi Dũng âm thầm chờ đợi đến phiên họp nghe công bố quyết định, khi nghe cô trưởng phòng quản trị nhân sự xướng danh tân trưởng phòng tài vụ trong buổi họp, chức danh này đã lọt vào tay của Nam khiến mọi người trong buổi họp ngỡ ngàng vì trước buổi họp đã có cái "Ti dô" thằng Dũng sẽ là trưởng Phòng, vậy mà kết quả ngoài ý muốn của Dũng khiến nó thầm oán " ông thầy" của mình đá giò láy mình một cách đau điếng, vì trước đây trong những lần đi tiếp khách làm ăn với đơn vị, ông Phát thường hay đề cao khả năng của thằng Dũng, rồi cũng từ những buổi nhậu này Dũng bắt đầu o bế nịnh nọt ông Phát ra mặt để ngõ hầu vớ cho bằng được chức trưởng phòng cho mát mặt mát mày với vợ con và với cả những người dòng họ bên vợ, vậy mà mọi chuyện xãy ra thật bẽ bàng, rồi hôm nay nghe câu nói của ông Phát tuy còn giận ông nhưng Dũng làm bộ ra chiều thông cảm với cái quyết định kia của ông Phát,( Dũng đâu có biết rằng sếp của mình bị sếp lớn hơn nên cất nhắc thằng Nam vì Nam là người thân thích của sếp lớn nọ), Dũng nói :

- Thôi chuyện cũ qua rồi anh Ba (Cách gọi của đám đàn em thân tính dành cho ông Phát) em thấy mình cũng chưa "đủ lông đủ cánh" để làm chức trưởng phòng đâu, có khi anh thương tình đưa em lên quá sức của em thì nhiều khi hại em không bằng, anh em mình thế này là được rồi, anh nghỉ việc nhưng tụi em vẫn quý anh như thường anh Ba ơi !

Nghe thằng đệ tử ruột cho "uống nước đường" ông Phát hả dạ vô cùng, trong bụng ông thầm nghĩ:

"Mấy tay tướng số mình nhờ xem phán trật lất hết, nhất là thầy Năm, ổng Phán thằng Dũng này có cái tướng phản phúc không đáng tin dùng, vì trước hay sau gì cũng sẽ bị nó hãm hại, mình nghĩ việc rồi mà thằng Dũng này nó không bỏ mình, đã vậy nó ăn nói thật có tình có nghĩa trước sau như một, tiếc thật phải chị."

Ðang theo đuổi cái suy nghĩ của mình thì tiếng thằng Dũng lại oang oang lên làm cắt ngang luồng suy nghĩ của ông Phát :

-Thôi anh Ba ơi, ngày trước anh chưa kịp nâng đỡ em út thì anh phải về "vui thú điền viên" rồi (nó tránh xài chữ về vườn để ông Phát khỏi phải chạm tự ái) đúng là có thiệt thòi cho em quá, nhưng không sao vì ông Tám sếp tụi em bây giờ lại là "lính lác" của anh Ba mà, nếu... nếu ...

Thằng Dũng nó cố tình bỏ ngang câu nói trên là cố ý "thả mồi câu" khiến cho ông Phát thắc mắc không hiểu Dũng nhà ta muốn đề cập vấn đề gì, ông bèn vồn vã hỏi ngay :

- Dũng nè, em nói nếu là nếu cái gì, sao nửa chừng im re vậy, có phải Dũng muốn nhờ anh ba đây giúp Dũng chuyện gì phải không?

Chờ có bấy nhiêu, thay vì thằng Dũng chộp ngay cơ hội này, nhằm mượn ông Phát " Bắt cầu" với ông Tám để nâng đỡ cho mình , nhưng sự tinh ranh ma quái là bản chất của những kẻ cơ hội đã mách bảo hắn đừng hấp tấp quá có khi lỡ việc, Dũng thản nhiên nói :

- Ấy chết, ai dám làm phiền anh Ba đâu, anh nghỉ hưu rồi thì phải cho anh vứt bỏ những vướng bận công việc quan trường hàng ngày để toàn tâm toàn ý sống với chị Ba ở nhà, em dầu có "ba đầu sáu tay" cũng chẳng dám nhờ vậy anh việc gì đâu, thôi vô trăm phần trăm với em đi anh Ba.

Ông Phát và thằng Dũng cụng ly kêu côm cốp rồi cả hai cùng nốc cạn ly bia một cách ngon ơ, dằn cái ly bia xuống bàn ông Phát vén cái vạc áo thun đang mặc trên người lên làm khăn lau bọt bia bám quanh mép miệng, rồi ông hứng khởi nói với thằng Dũng:

-Chú em mầy khỏi lo, anh là dân biết chơi biết làm mà, anh hiểu ý thằng em mầy rồi, để anh a lô ( phone) cho thằng Tám giám đốc, kỳ này anh xúi thằng Tám cho chú em mầy lên Phó giám đốc luôn, mà chú em phụ trách bộ phận của thằng Nam đó nghe, tức là chú em mầy chịu trách nhiệm giữ cái "hầu bao" của đơn vị, chức này quyền sanh sát trong tay nghe chú em, tình nghĩa nên anh mới gửi gắm nhe, bằng không chú em có lo bao nhiêu thì cũng dễ gì thực hiện được đâu.

Nghe ông Phát nói với cái giọng tha thiết chân tình, lúc này hình như ông Thiện trên vai thằng Dũng đã lấn át được ông ác nên nó cảm động thật sự, nó chồm sang ông Phát dùng hai bàn tay mình bóp chặt bàn tay của ông Phát, có lẽ vì quá hạnh phúc với điều ông Phát vừa nói với mình nên Dũng xiết quá mạnh khiến ông Phát đau điếng la oai oái :

- Ui cha đau đau anh quá, chú em mầy muốn bẽ lọi tay anh Ba hay sao vậy ?

Nghe sếp cũ của mình la làng, thằng Dũng buông tay ông Phát ra rồi nó vội vàng phân bua:

- Ấy chết, em xin lỗi anh Ba, em mừng quá nên quên, thôi để em làm nó giảm đau nhe, "thuốc" này hay lắm anh dán nó vô thì hết đau tức thì.

Nói vừa dứt lời, thằng Dũng mở khóa chiếc cặp táp mà lúc nào nó cung mang kè kè bên mình, nó lấy ra một bao lì xì loại lớn màu đỏ thắm với lớp ruột dầy cộm phía bên trong, nó "đắp" ngay vô bàn tay ông Phát, nó nhoẻn miệng cười tươi với ông Phát, nó nói:

-Anh Ba thấy em nói đúng không? Dứt cơn đau ngay thôi mà !

Phần ông Phát thật bất ngờ với
" món quà" từ trên trời rơi xuống do thằng đệ tử trao cho mình, với kinh nghiệm "quan trường" bấy lâu nay ông cũng nhẩm tính được giá trị của cái phong bì "nặng nhẹ" cỡ nào, và điều bất ngờ nhất ông Phát về nghỉ hưu rồi thì cho đến khi từ giã cuộc đòi dễ gì ông còn có cơ hội được đền ơn kiểu này...

Không hiểu vì lòng tự trọng, hay ông cố tình làm "màu mè" ông Phát nắm tay thằng Dũng ông trao cái bao lì xì lại cho nó rồi ông nói:

- Chú em mầy làm cái kiểu gì vậy, anh Ba đây chưa giúp gì mà chú em mầy làm vầy coi sao được, cất lại đi anh chỉ nói giúp thôi, quà cáp làm gì anh ngại lắm.

Thấy ông Phát trả lại số tiền đền ơn trước của mình, vì chính ông Phát từng nói với Dũng :

"Chú em mầy biết không, thời nào cũng vậy, " đồng tiền đi trước là đồng tiền khôn", có vậy thì công việc làm ăn mới thuận lợi khỏi sợ khó dễ gì".

Dũng tái mặt tưởng rằng sếp cũ của mình chê ít, nó lật đật trao lại cái bao lì xì cho ông Phát, rồi nó nói lí nhí chỉ vừa đủ hai người nghe:

- Cái này là tình cảm của em đối với anh bấy lâu nay thôi, chứ có phải lo lót chạy chọt gì đâu mà anh phải ngại, sau này công việc thuận lợi em sẽ gửi thêm cho anh tiêu xài, chứ tiền hưu bổng thì ít quá anh ạ, còn phần của anh Tám nếu đúng như anh nói thì em cũng phải có chút quà cáp gửi anh Tám cho vui.

Nghe Dũng nói vậy, mà ông Phát đã đoán chắc thằng lính cũ của mình phải nói câu này thôi, nên ông cất vội cái bao lì xì vào túi quần, rồi với cái vẻ mặt đầy hân hoan ông Phát cầm ly bia lên cụng Ly với Dũng lần nữa , cả hai hớp cạn không còn một giọt bia nào trong ly với dụng ý là để thể hiện dốc hết lòng hết sức với nhau trong câu chuyện này, đặt cái ly xuống bàn ông Phát nói:

- Dũng nói vậy thôi thì anh cầm tạm cho em vui, chớ thật ra anh chỉ muốn giúp cho em thôi, bây bày đặt quá chừng, mai mốt đừng vầy nữa nhe .

Thấy ông Phát đồng ý nhận vái bao lì xì, thằng Dũng nó thở hắt ra như trút được gánh nặng ngàn cân trên vai xuống đất, nó vui vẻ nói:

-Dạ anh ba thương tình mà dặn dò như vậy thì em hiểu rồi, thôi em xin phép anh chị cho em lui gót, kẻo la cà lâu quá cô vợ già nhà em nó lại không vui .

Ông Phát thấy thằng Dũng rút lui đúng lúc nên ông cũng nói theo:

- Ừ thôi chú em mầy về đi, có tin gì mới từ thằng Tám anh sẽ cho chú em mầy hay liền, nhưng yên chí đi anh Ba này ra tay thì ăn chắc bây ơi.

***

Quả thật đúng y như câu phán của ông Phát với thằng Dũng cái hôm mà hai thầy trò nâng ly tại nhà ông, có hôm ông Tám lái chiếc xe Toyota Camry của xí nghiệp ghé lại nhà ông phát, sở dĩ ông Tám đích thân cầm lái là vì không muốn cho thằng Tư tài xế để ý công việc của ông , vì nghe đâu tay Tư này cũng là đệ tử ruột của anh Bảy gì trên Sở, hắn được gửi gắm vô lái xe cho Giám đốc Tám thay cho ông Hai tài xế cũ của ông Phát, họ nại rằng ông Hai đau bệnh đề rà không đủ sức khỏe để đi công tác xa và khuyến khích ông nghỉ trước tuổi kèm theo mớ trợ cấp nghỉ việc với một lần lảnh tiền, ông Tám nghĩ nếu để thằng Tư đưa mình đến nhà ông Phát, nó đồn đãi ra dư luận thì không tốt cho con đường hoạn lộ của mình, vì ông Phát bị kỷ luật nên dính líu đến thì thật phiền phức, nhưng kẹt một nỗi là ông Phát là người ơn nghĩa của mình, dẫu sao đi nữa có gì gì thì cũng tìm cách trả ơn lại cho ông Phát như vậy mới trọn đạo lý làm người.

Sau một hồi đàm đạo cùng nhau tại cái bàn hôm ông Phát tiếp thằng Dũng tại nhà mình, ông Phát nói :

- Nãy giờ anh nói hết tình hết lý rồi đó, thôi Tám mầy nhắm được cho thằng Dũng như gợi ý của anh thì anh mừng, còn như khó quá thì thôi coi như anh Ba này chưa nói ra vậy , đừng áy náy.

Ông Tám nghe ông Phát có ý gửi gấm mình cất nhắc thằng Dũng lên chiếc ghế phó trong xí nghiệp, một chút ưu tư, rồi ông lưỡng lự phân bua với ông Phát :

- Anh Ba này, ơn nghĩa anh đối với thằng Tám em nó "nặng" lắm, em thầm nghĩ bấy lâu nếu có dịp nào đó em sẽ giúp lại cho anh Ba, riêng việc cậu Dũng em không biết anh Ba thấy có nên không, vì em nghe râm ran mọi người đồn đãi tư cách cậu này không tốt cho lắm, nhưng nếu anh Ba nhất quyết thì em sẽ cố gắng.

Nghe ông Tám cảnh giác mình về tánh khí của thằng Dũng, nhưng hình ảnh cách đây vài hôm giữa ông và thằng Dũng hiện về, ông thấy nó chân tình lắm, thái độ vẫn tôn kính mình mặc dù biết mình không còn "làm quan", người như vậy không giúp thì giúp ai bây giờ, còn lời đồn đãi của bàn dân thiên hạ cũng chỉ là đồn đãi thôi chưa có gì chứng minh hết, ông Phát đưa mắt nhìn ông Tám rồi bằng giọng tha thiết ông nói:

-Tám à, anh biết chứ trước đây thầy Năm đã cho anh xem lá số tử vi của thằng Dũng, anh xem nhưng mù tịt có biết ất giáp gì đâu, thấy vậy thầy Năm mới giải thích cho anh nghe, thẫy nói tay này tính lòn cúi bợ đỡ và nhất là hay " đá giò láy" , phản phúc không đáng tin, nhưng anh về hưu lâu rồi mà Dũng nó vẫn thăm anh thường xuyên , rồi quà cáp " động viên" tinh thần anh và chị nhà nữa , vậy đó nên bói toán anh chỉ xem cho vui thôi, tin nó có ngày bán lúa giống , ha ha ha.

Biết dù có bàn ra, có can ngăn thế nào cũng khó lay chuyển ý nghĩ của ông Phát, ông Tám bấm bụng hứa với ông Phát:

- Dạ thôi được, nếu anh Ba nói vậy thì để em lo, nhưng nói thiệt anh Ba đừng buồn vì có nhiều khi câu chuyện này sẽ khiến anh không vui về sau này thôi.

Sau một vài tách trà đối ẩm hai ông chia tay nhau, ông Phát thì vui trong bụng vì thấy được lòng trung thành và đầy ơn nghĩa của ông Tám đối với mình, riêng ông Tám không vui mà cũng chẳng buồn vì ông nhủ lòng mình đã sống có trước có sau với ân nhân mình, còn nếu như sau này thằng Dũng có gây ra điều gì trong xí nghiệp thì đó là cái duyên cái nghiệp đành chịu thôi.
***
Từ lúc lên chức vụ mới theo đề bạt của ông Tám, phó giám đốc Dũng tỏ vẻ oai vệ ra phết, từ ông bảo vệ đến bà lao công trong xí nghiệp không ai ưa bắn cả, nhưng đang nắm quyền lực trong tay thì Dũng nhà ta đâu dễ gì biết được những cái huýt cái ngó xéo khinh bỉ ra mặt với vị phó giám đỗ kia, mỗi lần tụm năm tụ ba ở quán cà phê bên kia đường cạnh xí nghiệp thì họ có dịp bàn tán:

- Ối cái thứ ốc mượn hồn này làm được cái giống gì mà phách lối, thằng ôn dịch này nó dữ phá banh "cái nồi cơm" của mình thôi.

Quả vậy sau một thời gian dưới sự quản lý của Dũng, xí nghiệp từ chỗ ăn nên làm ra nay phải mang nợ ngập đầu. Việc gì đến phải đến xí nghiệp phá sản đời sống mọi người bắt đầu thê thảm, ông Tám bị quy trách nhiệm để đơn vị làm ăn thua lỗ, những ngày này tên Dũng lặn không sủi tăm, bao nhiêu khó khăn đỗ dồn lên ông Tám, như đã biết được trước ngày này ông Tám không hề trách ông Phát một tiếng vì cũng từ ông Phát nên ông Tám phải " Dưỡng Hổ di họa"...

***
Biết được tình trạng đáng buồn của xí nghiệp của mình làm thủ lĩnh ngày nào đang đến hồi mạc vận, ông Phát đâm lo, ông lo vì nguyên nhân có trách nhiệm của ông một phần trong đó, ông lẩm nhẩm :

-Dũng ơi là Dũng! , mầy hại tao, hại thằng Tám, hại cả xí nghiệp rồi, trời ơi là trời.

Ông Phát đỗ bệnh ra từ đó, giờ thì chẳng có thằng em út nào đến thăm ông bà nữa, còn thằng Dũng thì nó "bặt vô âm tín" vì mỗi lần ông bấm điện thoại cho nó ông chỉ nghe âm thanh ò í e, ò í e trong ống nghe...

Một hôm ông đang bưng chén thuốc Nam mà bà Phát mới sắc cho ông, vừa dợm đưa lên miệng uống thì chuông điện thoại đỗ dồn khiến ông giật mình vội chụp ống nghe:

- A lô, a lô. Tui nghe

Bên kia đầu dây không trả lời, thình thoảng ông nghe tiếng cười của mấy cô gái bên kia đầu dây, rồi bổng đâu tiếng thằng Dũng vang lên như nó đang nói chuyện với ai đó trong quán nhậu :

- Anh nói gì ? Lão Phát ấy à, ối giời lão già rồi mà ngu đáo để, thằng em này đưa lão chút tiền mà lão đã gắn cho tớ đôi cánh bay xa, bay cao trên trời danh vọng. Khà khà khà

Biết là thằng Dũng trời đánh vô tình để cấn máy điện thoại gọi ngay số nhà ông mà hắn chẳng hay, nghe xong ông Phát giận xanh mặt ông đập ống nghe xuống đất vỡ tan từng mảnh như trong lòng ông cũng đang nát tan từng mảnh.

***
Ðứt mạch máu não do giận dữ sau khi nghe lời bình phẩm về mình của thằng " Ðệ tử ruột". Ông Phát "cưỡi Hạt qui tiên", ngày tiễn ông về nơi cuối trời quên lãng, có một gã đàn ông mang kính đen đi lặng lẽ theo đoàn đưa tang, quan tài ông Phát vừa khuất sau cánh cửa của chiếc xe tang, người đàn ông nọ giở cặp kính ra khỏi mắt, rồi lấy chiếc khăn mù soa lau vội đôi dòng lệ của cặp mắt đỏ hoe của hắn, bà lao công và ông bảo vệ thấy vậy họ che miệng nói với nhau:

" Nước mắt cá Sấu rơi kìa "

Viết xong 26.6.2017


Hai Hùng SG

Mục Lục


IIỊ Hộp Thư Toà Soạn ___________________________________________________



Nguyệt San Giao Muà xin cám ơn những thân hữu đã dóng góp bài vở cho Nguyệt San Giao Muà số 184 . Một số bài khác sẽ được đăng dần vào số tớị Mong mỏi sẽ nhận được những sáng tác của các bạn bốn phương để cho Nguyệt San Giao Muà thêm phần hương sắc trong tương laị

Mục Lục


Thể lệ để nhận Nguyệt San Giao Muà: 1) Ðể vào danh sách của NSGM (subscribe), xin gửi email về GiaoMua@hotmail.com
2) Ðể rút ra danh sách của NSGM (unsubscribe), xin gửi email về GiaoMua@hotmail.com
3. Mọi chi tiết, thể lệ, thắc mắc, xin gửi về: GiaoMua@hotmail.com 4. Mọi bài vở, đóng góp, xin gửi về: GiaoMua@hotmail.com Nguyệt San Giao Muà Homepage: http://www.GiaoMuạcom Thể lệ gửi bài cho Nguyệt San Giao Muà: Mong bạn gửi Bài cho GM theo cách này là tốt nhất : 1. Dùng mẫu chữ Vietnet (VIQR) hay Unicode 2. Viết Hoa chữ đầu của bài và bút hiệụ Ví dụ: Giọt Mưa Trên Lácủa NS Phạm Duy 3. Gửi bài ngay trong email (không kèm file), để cho BBT khỏi mất công download xuống để đọc 4. Gửi tất cả các bài trong 1 tháng 1 lần trong1 email, nếu tiện. 5. Bài vở xin gửi đến trước ngày 25 mỗi tháng 6. Mọi chi tiết, thể lệ, thắc mắc, xin gửi về: GiaoMua@hotmail.com Cám ơn bạn rất nhiều, vì nhân sự có hạn, BBT không thể ngồi đánh máy lại từng đề bài hay bút hiệụ

Ðịa Chỉ Liên Lạc:

Nguyệt San Giao Muà
P.O . Box 378
Merrifield, Virginia 22116
USA

Trang Nhà 

Web Counters
Web Site Hit Counter

Copyright 2002 by Giao Muà e-magazine and respective authors