Nguyệt San phát hành định kỳ vào mỗi đầu tháng
Nguyệt San Giao Mùa
Merrifield, Virginia
22116
USA
Số 284
Ngày 1 tháng 5 năm 2026
![]() |
| Home | Những Số Cũ | Thư Ngỏ | Liên Lạc | ||
| Chủ Nhiệm kiêm Chủ Bút: | Ðinh Trường Như (TK Trung Kỳ) |
| Ban Biên Tập: | Mạc Phương Ðình, Phan Thái Yên |
| Chung Thủy, Nguyễn Thị Thanh Dương | |
| & TK Trung Kỳ | |
| Kỹ Thuật: | Đồng Mỹ |
Mọi bài vở đóng góp xin gửi về GiaoMua2025@gmail.com
Copyright
2002 by Giao Muà e-magazine and respective authors
++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++
Bài vở trên Giao Muà là do các tác giả gửi đăng và Giao Muà không chịu trách nhiệm về nội dung. Muốn xin trích đăng lại, xin liên lạc với GiaoMua2025@gmail.com.
I . Thơ _______________________________________________________________________
| 1. | CÁM ƠN MẸ | Nguyễn Thị Thanh Dương |
| 2. | Hỏi Biển | Bạch Liên |
| 3. | Điểm lặng | Vân Hà |
| 4. | Mưa Buồn | Hàn Thiên Lương |
| 5. | Anh cứ đi đời cứ bôn ba | Lê Miên Khương |
| 6. | Mở cửa cõi hư không | ChinhNguyên / H.N.T |
| 7. | Ngọc Lan -Nửa Kiếp Tài Hoa Tàn Úa, ĐÁP LỜI SÔNG NÚI, Ngọn Nến Cho Quê Hương | Chương Hà |
| 8. | Tháng Tư Vẫn Nhớ | PLANG̀ |
| 9. | 12 KHÚC ĐỘC VẬN TRƯỜNG THIÊN | ĐẶNG XUÂN XUYẾN |
II . Văn _______________________________________________________________________
| 1. | MẸ CHỒNG…. HẮC ÁM | Nguyễn Thị Thanh Dương |
| 2. | XIN LỖI ANH LONG | KIM LOAN |
| 3. | KHÔNG BAO GIỜ | KIM LOAN |
| 4. | Chút Hương Xưa | Bạch Liên |
| 5. | BẠN TÔI THỜI BAO CẤP | KIM LOAN |
| 6. | Tâm Hồn Một Tài Tử | Trần Thị Hiếu Thảo |
| 7. | CHUYỆN CỦA THUẬN | ĐẶNG XUÂN XUYẾN |
| 8. | NHỮNG VẦN THƠ | Chu Diệp |
| 9. | ĐỌC LẠI "VÀI CẢM NHẬN VỀ PHIM BỐ GIÀ" CỦA ĐẶNG XUÂN XUYẾN | Nguyễn Văn |
| 10. | CÁI LÝ NGŨ HÀNH CỦA ĐẶNG XUÂN XUYẾN | THIÊN VIỆT |
III . Tin Tức /Trả Lời Bạn Ðọc__________________________________________________
| 1. Tin Tức/Trả Lời Bạn Ðọc _______ Ban Biên Tập |
I . Thơ __________________________________________________
II . Văn___________________________________________________________
Nguyễn Thị Thanh Dương
Hôm nay đi chùa Liên sẽ về sớm hơn mọi ngày, nàng nói với tôi:
- Chiều nay vợ chồng em cần đi xem vài địa điểm apartment nữa để chọn chỗ thuê mướn cho vừa ý vừa túi tiền chị ạ. Chúng em đã hỏi vài chỗ, thuê căn hai phòng cũng hơn một ngàn một tháng qúa đắt với chúng em.
Nhìn vẻ mặt Liên lo buồn tôi thương cảm và tức sôi máu lên giùm Liên:
- Chúc em chọn được căn vừa ý nhé. Thôi thì tuy tốn tiền mà ở riêng tinh thần thoải mái hơn ở với bà mẹ chồng….cà chớn đó.
Nói xong tôi…giật mình, đã đến chùa mà còn ăn nói ác khẩu, xía vào chuyện nhà người ta.
Liên là bạn vai em, chúng tôi gặp nhau và quen biết nhau ở chùa. Mỗi thứ bảy cuối tuần tôi thường đi lễ chùa và Liên cũng thế. Thỉnh thoảng nàng hay than thở về bà mẹ chồng khó tính khó ưa.
Liên mới sang Mỹ được chừng 5 năm, có hai đứa con, nàng làm nail, chồng tên Hải làm thợ hàn trong hãng xưởng. Vợ chồng con cái đang ở chung với cha mẹ chồng thì đùng một cái bà mẹ chồng tuyên bố “đuổi” gia đình Hải ra ở nơi khác.
Liên đã vừa khóc vừa kể:
- Mẹ chồng em hắc ám lắm chị ơi, hồi đó bà phản đối không cho anh Hải về Việt Nam cưới em. Bởi vậy bà ghét em, chê em con nhà nghèo, bà nghi ngờ em đi làm dấm dúi gởi tiền về Việt Nam cho cha mẹ anh em.
- Em ở chung nhà mẹ chồng 5 năm trời là giỏi đấy.
- Vợ chồng mới cưới tiền đâu mà ở riêng? Rồi em liên tiếp sinh hai con nên phải nương tựa nhà chồng. Ôi, ở chung cực khổ trăm bề, muốn ăn muốn ở gì theo ý mình đâu có được, bà kiểm soát, chỉ huy em đủ thứ nghe mà bắt mệt. Tụi em chưa sẵn sàng tiền bạc để ra ở riêng thế mới khổ chứ.
Tâm hồn tôi cũng bị ngả nghiêng theo chiều gió, tôi lẩm bẩm trách bà mẹ chồng của Liên:
- Làm cha mẹ phải đỡ đần cho con cháu, giận gì thì giận nỡ lòng nào đuổi con cháu ra khỏi nhà cái rụp vậy. Bà mẹ chồng của em đúng là …hắc ám.
Liên bùi ngùi:
- Em thật vô phước gặp bà mẹ chồng kiểu này. May mà còn có chồng thương em…
Tôi cũng thấy ghét bà mẹ chồng của Liên dù chưa gặp mặt lần nào.
Cuối cùng thì vợ chồng Liên đã ra ở riêng, họ thuê căn apartment hai phòng gía $1,200 một tháng. Ngoài tiền thuê nhà, còn tiền gởi hai con, Liên gởi con cho bác người Việt ở ngay bên cạnh, cũng may bác hàng xóm thông cảm hoàn cảnh vợ chồng Liên nên lấy giá rẻ hơn nhiều so với nơi khác.
Từ ngày ra ở riêng Liên ít đi chùa, có khi cả một hai tháng tôi không gặp Liên, có lẽ nàng bận rộn làm việc nhiều hơn và lo chuyện nhà nhiều hơn. Lúc trước ở chung với nhà chồng, có cha mẹ là có thêm người, thêm tay chân đỡ đần chuyện nhà cửa con cái nên vợ chồng Liên mới rảnh rang.
Bẳng đi một thời gian dài tôi không gặp Liên nhưng tôi nghĩ gia đình Liên đang sống yên vui nơi ở mới là tôi cũng vui theo.
*****************
Một thứ bảy tôi đi chùa như thường lệ, lúc giờ ăn trưa có một bác tìm hỏi đúng tên tôi, bác giới thiệu là mẹ chồng của Liên và đưa tôi một tấm thiệp mời:
- Nè cô, con Liên dặn dò tôi trao tận tay cô tấm thiệp mời ăn tân gia.
Tôi ngỡ ngàng nhìn tận mặt bà mẹ chồng “ hắc ám”, đó là một bà mẹ quê nét mặt hiền lành chất phác, vậy mà qua những lời Liên kể tôi đã hình dung ra một “ác phụ”, một “bà chằng” đối xử tàn tệ với con dâu. Tôi thật sự ngạc nhiên:
- Ủa bác…là …là…mẹ chồng của Liên??
- Tôi ít khi đi chùa, trừ khi dịp lễ lớn như Phật Đản, Vu Lan, cô không biết tôi là phải, hồi nào tôi mắc ở nhà lo cơm nước chồng con rồi phụ trông cháu. Lâu nay con Liên cũng bận rộn qúa chừng nhưng nó vẫn nhớ đến cô.
Tôi ngạc nhiên lần nữa:
- Vợ chồng Liên đã mua được nhà rồi sao? mới hôm nào cô ấy còn than thở với cháu là tiền thuê nhà, tiền gởi con và đủ thứ tiền khác hao tốn lắm mà, làm sao vợ chồng Liên để dành tiền nhanh thế?.
- Đúng vậy đó cô, để vợ chồng nó ra ở riêng mới biết lo ….
Bà mẹ như gặp được chỗ để thở than:
- Cô ơi, có cha mẹ nào mà không thương con thương cháu mình? Ban đầu thằng Hải con tôi đòi cưới vợ ở Việt Nam tôi có phản đối vì chẳng biết rõ gia đình người ta thế nào, nhưng đã lấy nhau, trở thành con cái trong nhà tôi cũng ráng đùm bọc chúng, cho ở chung và trông con cái cho vợ chồng nó đi làm hầu tiết kiệm được tiền sau này mua nhà mua cửa và lo cho con, nhưng có dư đồng nào là hết đồng đó. Cô coi, con Liên mới theo chồng sang Mỹ được 5 năm mà nó mang con về Việt Nam thăm cha mẹ nó tới 3 lần, tiền bạc nào chịu cho thấu. Thằng chồng thương vợ không dám nói gì, tôi khuyên nhủ thì bị con dâu giận hờn chê trách tôi ích kỷ nhỏ nhen không muốn nó về thăm cha mẹ….
Tôi đã hiểu phần nào câu chuyện và tin những lời người mẹ này kể. Một chuyến về thăm Việt Nam của 3 mẹ con Liên tiết kiệm lắm cũng phải tốn năm, bảy ngàn, vung tay hơn nữa là tốn chục ngàn như chơi. Nếu cha mẹ Liên ở Việt Nam biết hoàn cảnh tiền bạc Liên không dư dã gì mà về Việt Nam liên tục như thế chắc gì họ đã vui? Thà rằng cứ thăm hỏi qua điện thoại, qua thư từ, biết tin nhau mạnh khỏe bình an là vui rồi. Thay vì thường xuyên về Việt Nam, Liên có thể gởi biếu cha mẹ tiền vẫn nhẹ nhàng đỡ tốn kém hơn rất nhiều..
Bà mẹ kể tiếp:
- Tôi đành đoạn…đuổi chúng ra khỏi nhà. Qủa thật sau 3 năm ở riêng dù phải trả tiền nhà, tiền gởi con nhưng vợ chồng nó biết lo làm ăn, tiết kiệm, để dành được một món tiền nhỏ, vợ chồng tôi phụ thêm vào cho chúng tiền để pay down mua một căn nhà.
- Bây giờ mẹ chồng nàng dâu đã thông cảm nhau rồi hả bác?
Bà mẹ tươi cười:
- Chắc con dâu đã hiểu ra tấm lòng tôi, mỗi ngày thấy nó thân với tôi một chút tôi cũng mừng, nó còn nói phải chi con không về Việt nam mấy chuyến là có tiền down nhà từ sớm rồi. Hồi đó mỗi lần về Việt Nam chơi là một hai tháng, đã không kiếm được tiền một hai tháng, lại mất việc khi trở lại Mỹ, tiệm nail cũ không nhận vì đã mướn người khác, nó lại phải tìm việc nơi khác và làm lại từ đầu.
Tôi tiếc rẻ giùm cho Liên:
- Hèn gì nghèo là phải, mỗi lần Liên đi chùa thường hay cầu khấn trời Phật phù hộ kiếm được chỗ làm tử tế là thế. Nhưng làm chưa ấm chỗ lại xin nghỉ về Việt Nam thì chủ nào chịu nổi.
- Tôi trông hai cháu nội cho vợ chồng nó đi làm. Bây giờ con Liên đã yên ổn một chỗ làm, nó siêng làm lắm, không mấy hồi mà trả hết nợ nhà, có căn nhà của chính mình mà ở là sướng nhất phải không cô?
- Dạ, bác nói đúng.
Bà mẹ cởi mở:
- Chừng đó, không mắc nợ nhà nợ xe gì nữa, rủng rỉnh tiền bạc thỉnh thoảng vợ chồng con cái thằng Hải con Liên có về Việt Nam thăm bên vợ ai cấm cản làm chi…
Tôi khen:
- Bác…càng nói đúng..
Bà nhìn tôi với vẻ biết ơn vì đã lắng nghe và hiểu nỗi lòng của bà. Trút xong tâm tình bà mẹ chồng “hắc ám” của Liên vui vẻ nhắc nhở tôi:
- Cô nhớ đến chung vui tân gia với chúng tôi nha, căn nhà nó mua tôi ưng hết sức, vợ chồng con cái nó ở tha hồ thoải mái. Căn nhà là tổ ấm mà cũng là của cải vốn liếng, chứ đi thuê mướn nhà trả tiền tháng nào là bay mất tiêu tháng đó.
Tôi cầm tấm thiệp mời, chẳng cần biết căn nhà cũ mới thế nào nhưng đã hình dung ra một căn nhà ấm cúng của vợ chồng Liên.
Bà mẹ chồng Liên chào tạm biệt và hẹn tái ngộ.
Tôi thấy bà mẹ chồng “hắc ám” này thật hiền hòa dễ thương mà hôm nay mới gặp lần đầu tôi đã nhiều cảm mến. Tôi thầm nói với theo bóng dáng bà đang khuất dần phía xa:
- Bác ơi, bác là bà mẹ chồng tuyệt vời của cô Liên đấy.
Và chốc nữa đây tôi sẽ vào chùa thắp nhang…sám hối vì bấy lâu nay tôi cứ hùa theo Liên chê trách bà mẹ chồng này. Mong bà tha lỗi cho tôi.
KIM LOAN
Hai anh em tôi ngồi trong quán nước bến xe Bà Hạt, lát sau có một thanh niên khoảng gần 30 tuổi tiến đến, chúng tôi nhận ra anh Long vì tuần trước, anh và chủ tàu vượt biên là anh Minh có đến nhà tôi để bàn bạc và thỏa thuận giá cả chuyến đi.
Ba người bắt tay nhau, anh Long tiếp:
- Cô và anh ngồi đây, tôi còn đi đón thêm người.
Lát sau, anh dẫn đến một phụ nữ cùng cậu thiếu niên chừng 14 tuổi và bé trai cỡ 8 tuổi, anh giới thiệu:
- Đây là Loan, còn đây là chị Cải và hai con trai của chị ấy: Sơn và Cu Tí. Tôi sẽ là người dẫn đường, là trưởng nhóm, từ đây cho đến khi qua Cambodia, trước khi lên tàu ra khơi mọi người phải đi theo tôi, nghe lời hướng dẫn của tôi!
Vừa lúc đến giờ lên xe đò, anh Long dặn:
- Chút nữa trên xe sẽ có 3 nhóm khác, tổng cộng là 4 nhóm, tính luôn các trưởng nhóm thì khoảng hơn 20 người, tất cả đều “quen”, nên cứ việc nói chuyện thoải mái, nhưng luôn nhớ nghe lời trưởng nhóm khi có bất cứ việc gì cần thiết.
Mọi người bắt đầu lên xe, tôi quay lại vẫy tay chào anh tôi, rồi đi xuống phía cuối xe, nơi có 3 cô gái đang ngồi hàng ghế chót, còn dư một chỗ, tôi liền ngồi vào đấy. Tôi chẳng biết anh Long ngồi chỗ nào, xe lăn bánh, tiếng nói chuyện bắt đầu rì rào. Tám giờ tối, gió mát mẻ, những phố xá lùi lại phía sau, xe hướng về đồng ruộng vắng vẻ, trực chỉ Long An. Tôi muốn nhắm mắt nghỉ ngơi vì cảm xúc nhớ nhà bắt đầu làm lòng tôi thổn thức, nhưng ba cô gái bắt chuyện hỏi han, mới biết cả bốn đứa chỉ hơn kém nhau 1 tuổi, từng học cùng mái trường, chỉ là khác khóa, khác lớp. Cơn buồn ngủ tan biến, chúng tôi nói chuyện về trường lớp suốt đoạn đường dài cho đến gần nửa đêm khi nhiều người trên xe đang ngon giấc, anh Long bỗng xuất hiện từ phía sau ghế, cúi xuống nói với tôi:
- Chút nữa xe đến biên giới, cửa khẩu Mộc Hóa, chúng ta sẽ nghỉ qua đêm tại một quán ăn ven đường.
Tôi thắc mắc:
- Sao mình không đi xuyên đêm luôn hả anh?
- Giờ này trạm cửa khẩu đóng cửa, ngày hôm sau họ mới làm việc lại.
Bốn đứa dừng nói chuyện, nhìn qua khung cửa xe nao nức chờ đợi phút giây nhìn thấy biên giới dù bên ngoài tối đen.
Xe dừng lại, mọi người xuống xe, màn đêm tĩnh mịch, quán ăn duy nhất giữa đồng có chút ánh đèn le lói, bên trong các bàn ghế xếp gọn gàng. Một người ra lệnh:
- Ai theo nhóm nấy, lên bàn ngủ, sẽ có mùng mền đem ra. Các nhóm trưởng nằm ngoài hiên hoặc trong xe.
Cô bạn trong ba cô bạn mới quen đề nghị:
- Nhóm tụi mình ngoài 3 đứa còn có một cặp vợ chồng, hay là tụi mình hỏi ban tổ chức đổi Loan qua bên đây, cặp kia qua bên đó?
Cô bạn khác gạt ngay:
- Thôi khỏi làm phiền ai. Khác nhóm nhưng vẫn gặp nhau, nay mai lên tàu qua Thái chung cả tàu, lo gì!
Tôi đồng ý rồi bước đến chỗ mẹ con chị Cải đang nằm, mùng mền hẳn hoi, hầu như ai cũng mệt nên chỉ hơn chục phút sau cả quán im lìm, chỉ nghe tiếng ngáy đều trong khuya vắng .
Hơn 6 giờ sáng đã nghe lục đục trong quán, tôi mở mắt, thấy anh Long đang ngồi uống cafe ở chiếc bàn trong góc quán, một vài chiếc mùng cuối cùng cũng đang dọn dẹp, trả lại không gian cũ cho quán. Anh Long nhắc tôi sau khi đánh răng rửa mặt ra ăn sáng. Ai ăn xong sớm thì đi bộ ra ngoài quán, tha hồ ngắm cảnh biên giới, vì đến giữa trưa xe mới chạy qua cửa khẩu, đó là giờ nhóm lính canh gác chịu ăn hối lộ.
Trời đứng bóng, xe chuẩn bị vượt qua cửa khẩu, để tránh sự nghi ngờ và giảm bớt tiền hối lộ, chỉ có người lớn tuổi và trẻ em được ngồi trên xe, còn lại chúng tôi phải đi tắt dưới ruộng lúa khoảng một cây số. Đường ruộng khô cứng, gập gềnh, tôi cố đi nhanh nhưng vẫn bị bỏ lại phía sau. Anh Long thỉnh thoảng dừng lại, chờ tôi, mỉm cười:
- Cô đúng là tiểu thơ đi vượt biên!
Tôi chống chế:
- Tại đường ruộng em đi chưa quen.
- Cô mới vượt biên lần đầu sao?
- Dạ không, nhưng lần trước đi đường biển miền Tây, khi đang còn nằm tập kết chờ “taxi” đã bị giải tán, có lội ruộng bao giờ đâu!
Rồi cũng ra tới đường lộ, leo lên xe đã chờ sẵn, tiếp tục chuyến hành trình. Trời trưa nắng cháy, cảnh vật hai bên đường nghèo nàn, lác đác có vài căn nhà sàn và bóng người. Càng về gần thủ đô phố xá đẹp hơn, nhà cửa san sát, người qua lại đông hơn. Đến chiều, xe tiến vào Phnom Pênh, qua cây cầu đá dài, có người nói:
- Đây là cây cầu nổi tiếng của Phnom Pênh, cầu mang tên Sài Gòn.
Xe dừng dưới chân cầu, trước một quán ăn bề thế, tấp nập người ra vào. Một số người chạy đến vây quanh xe, hỏi chúng tôi bằng tiếng Việt “Đổi tiền Riel không bà con ơi!?”. Tôi và ba cô bạn không có tiền để đổi, (có dấu trong người vài chiếc nhẫn vàng phòng khi hữu sự), vì khi còn ở Việt Nam, chúng tôi đã nộp một số tiền cho ban tổ chức, là tiền mà các người dẫn đường sẽ lo chuyện ăn uống, chỗ ở, xe cộ trong thời gian chờ ngày xuống tàu ra khơi. Tuy nhiên, có một số người vẫn có tiền, họ đổi tiền riel để xài riêng. (Sau này, trên con đường bị bắt giam hai lần tại Cambodia, và tại bãi biển Thailand, tôi mới thấy có tiền rất hữu ích, vì mỗi lần gặp “khó khăn” cần chi tiền vẫn tốt hơn là phải đưa ra cái nhẫn vàng, họ có “thối lại” tiền đâu!).
Xong vụ đổi tiền, cả đoàn kéo vào quán ăn cơm, chủ quán người Việt, các món ăn rất ngon, vì Phnom Pênh nằm giữa dòng chảy sông Mekong và Tonle Sap nên cá tôm tươi rói, ê hề . Mẹ con chị Cải gọi cá kho tộ, canh chua. Bàn bên cạnh mấy cô bạn cũng gọi cùng món, tôi đang phân vân thì anh Long gợi ý:
- Nếu cô thích ăn tôm thì nên gọi cơm tôm càng kho tàu, món ngon nhất quán đấy.
Tôi nghe theo lời “thổ địa”, nhìn dĩa cơm lấp lánh màu gạch tôm, với bắp cải đậu que luộc và chén nước mắm ớt, tôi ăn ngon lành, đúng là không có chỗ nào chê .
Cơm nước xong, từng nhóm đón xe lam về nhà trọ (xe đò đưa chúng tôi đến Phnom Pênh đã xong nhiệm vụ). Tôi say sưa ngắm cảnh phố phường mà quên mất thân phận vượt biên. Nhà trọ là căn nhà lầu đúc hai tầng, rộng rãi, bên trong chẳng có đồ đạc gì ngoài cái sàn nhà lót gạch bông mát rượi. (Chủ nhà xưa kia khá giả, nay thời thế thay đổi, như Sài Gòn sau 1975, làm nhà trọ để kiếm sống). Mỗi nhóm được một cái mùng to, không mền gối, cứ đem hành lý vào mùng, muốn ngủ kiểu nào thì ngủ. Ngoài chúng tôi, còn nhiều khách khác, là dân đi buôn lậu hàng hóa Thái-Cam mang về Việt Nam bán lại, họ nói chuyện bằng tiếng Việt và tiếng Cam, ồn ào cả cái nhà trọ. Chúng tôi 4 nhóm được giăng mùng sát nhau, nên ngồi trong mùng nói chuyện, ai mệt thì ngủ, ai thức cứ thức vì các âm thanh hỗn độn nơi đây không bao giờ ngưng.
Sáng hôm sau thức giấc, chỉ còn một mùng của nhóm tôi. Anh Long giải thích:
- Các con buôn đã thức dậy từ sớm, và các nhóm của chúng ta cũng đã ra khỏi đây, tôi thấy cô và mẹ con chị Cải ngủ ngon quá, không nỡ đánh thức.
Chị Cải áy náy:
- Mấy mẹ con tui đêm qua ham vui, đến 2 giờ sáng mới chợp mắt, tui xin lỗi nếu làm ảnh hưởng đến đoàn.
- Đâu có gì gấp! Chúng ta sẽ phải đổi nhà trọ mỗi ngày để tránh bị chú ý, chờ ngày đi cảng Kampong Som xuống tàu, còn bây giờ là đi “tham quan” chợ Olympic và ăn trưa.
Năm người đi bộ, từ nhà trọ khoảng 6-7 blocks đường là đến chợ. Ngôi chợ kiểu như chợ Bến Thành, các gian hàng san sát nhau đủ loại, vì đây là chợ đầu mối lớn nhất Cambodia lúc bấy giờ. Vào chợ, tôi ngạc nhiên vì nhiều tiểu thương nói sành cả hai tiếng Việt-Cam. Chúng tôi thong thả ngắm từng gian hàng, lúc này mới biết chị Cải là dân Việt gốc Hoa, từng sống ở Cam một thời gian, nên chị nói sành sõi cả ba thứ tiếng. Chị mua một vài món đồ cho hai thằng con, rồi quay qua nói với tôi:
- Mua ít đồ phòng hờ cần xài khi qua trại tỵ nạn.
Anh Long hỏi tôi:
- Cô Loan thích mua gì không, tôi sẽ mua cho?
- Dạ thôi, em có mang theo vài món đồ khô dùng trên tàu khi cần thiết.
- Ý tôi là hàng lưu niệm kìa!
- Đi vượt biên chớ có phải du lịch mà mua đồ lưu niệm?
- Thì mua để sau này cô đi định cư mang theo, gọi là kỷ niệm xứ Cam.
- Xa vời quá, dù sao cũng cám ơn anh.
Đến cuối chợ là gian hàng ăn, đập vào mắt tôi là xe hủ tíu mì của một người Tàu rất đông khách. Ông chủ vừa làm hủ tíu vừa rao hàng bằng 3 tiếng Việt-Cam-Tàu. Tôi đã thưởng thức tô hủ tíu Nam Vang ngay giữa lòng Nam Vang (tên cũ của Phnom Penh), một tô hủ tíu ngon đến nhớ đời.
Trên đường về, chúng tôi đi qua những con đường rất đẹp, có hàng cây cao bóng mát, có những quán cafe vỉa hè, và đâu đó vang lên những bài hát “nhạc Vàng” của Sài Gòn, mới thấy dân Việt sinh sống nơi đây rất đông . Nhà trọ mới, nhỏ hơn nhà trọ hôm qua, được dọn sạch tầng dưới cho hơn chục người khách, tầng trên có hai mẹ con chủ nhà sinh sống và nhận luôn việc nấu cơm cho khách, tôi vui sướng gặp lại ba cô bạn. Chúng tôi xúm vào kể chuyện đi chơi Phnom Penh, và tán dóc với chủ nhà qua lời thông dịch của chị Cải. (anh Long bỏ đi đâu đó, sau này mới biết, họ luôn chạy đôn chạy đáo như con thoi, để liên lạc với ban tổ chức, chờ lệnh tiếp theo).
Gần đến giờ cơm chiều, tôi bỗng bị ói mửa, lên cơn sốt nhẹ, có lẽ vì tôi uống quá nhiều nước thốt nốt ngoài chợ, và lang thang cả buổi ngoài trời nắng. Chị Cải đưa tôi thuốc hạ sốt, rồi tôi chợp mắt ngủ. Tỉnh dậy khi bên ngoài đã chạng vạng tối, tôi tỉnh táo hơn, anh Long hỏi:
- Cô ăn cháo nhé, tôi đã nhờ chị chủ nhà nấu, những người khác đã ăn cơm xong rồi.
Tôi lắc đầu:
- Em không muốn ăn cháo, em chỉ thèm một tô hủ tíu mì.
- Giờ này lấy đâu ra hủ tíu mì cho cô?
- Hồi trưa trên đường về đây, em thấy quán mì ngay góc đường!
- Cô tinh mắt nhỉ, không lo cảnh giác lính Cam mà chỉ thấy hàng hủ tíu mì. Nhưng nếu tôi dẫn cô ra đó, sắp đến giờ giới nghiêm, loạng quạng gặp tên lính Cam hỏi giấy tờ, cô lại không biết tiếng Cam, là nó mời về đồn ngay đấy.
- Thì anh đi mua về cho em.
Chị Cải và mấy cô bạn cũng góp lời, rằng một tô hủ tíu mì sẽ giúp tôi mau lại sức hơn là tô cháo trắng ăn với cá khô. Anh đành khoác thêm chiếc áo sơ mi rồi đi ra ngoài, lát sau xách về tô mì nóng hổi. Ba cô bạn cười nắc nẻ:
- Anh Long ơi, nhìn anh rảo bước vội vã trong trời mờ tối, áo bay phất phới, xách cái cà-mèn, chẳng khác gì đang chăm vợ đẻ.
Anh tủm tỉm cười:
- Ối dào, chăm vợ đẻ cũng chẳng vất vả bằng chăm tiểu thơ vượt biên, cho đúng phương châm “vui lòng khách đến vừa lòng khách đi”.
Vài ngày tiếp theo, đổi vài nhà trọ, cho đến một ngày tại nhà trọ ngoài nhóm tôi ra, không có nhóm quen, nhưng có 5-6 người Việt khác, anh Long bảo họ cũng sẽ xuống tàu vượt biên với chúng tôi. Buổi chiều anh Long mang cơm về rồi thông báo, sáng sớm mai sẽ đi thành phố cảng KamPong Som. Ăn xong, mọi người ngồi uống trà ăn bánh, vì còn sớm, tôi và anh Long mang trà ra ngoài hiên nhà nói chuyện. Biết tôi là cô giáo ở Việt Nam, anh trầm ngâm:
- Tôi cũng suýt nữa làm thầy giáo đấy.
- Thế à! anh dạy môn gì?
- Tôi đậu Cao Đẳng Sư Phạm môn Toán, Lý, nhưng chiến tranh Tây Nam bùng nổ, tôi phải đi “nghĩa vụ quân sự” qua Cambodia.
- Nhưng ba năm sau anh sẽ được giải ngũ và về học lại chứ?
- Trên lý thuyết là như thế, nhưng vào cuộc chiến rồi bị kẹt thêm mấy năm nữa, đến khi thế giới yêu cầu Việt Nam rút quân ra khỏi Cam. Dầu sao, cũng có chút an ủi cho tôi, khi ở chiến trường, nhiều lần tôi đã có dịp dạy Toán cho các đồng đội người Việt và người Cam.
- Rồi sao anh không về nhà?
- Anh Minh chủ tàu kêu tôi ở lại giúp anh tổ chức đường dây vượt biên. Giai đoạn này Cam còn trong giai đoạn “chuyển tiếp” nên tham nhũng hối lộ tràn lan, các chuyến đi thành công dễ dàng. Có lúc tôi tính nghỉ nhưng thâm tình với anh Minh khiến tôi dùng dằng mãi đến giờ. Tuy nhiên, công việc này kiếm khá nhiều tiền, tôi đã xây nhà cho bố mẹ, cho tiền các em làm vốn đầy đủ, hơn hẳn làm thầy giáo nghèo, cô nhỉ?
- Vậy sao anh không đi vượt biên ra nước ngoài, sau này bảo lãnh gia đình?
- Không! Tôi là Bắc Kỳ mới, không phải Bắc Kỳ di cư như cô, lại là bộ đội, khi qua trại sẽ bị phân biệt, khó được các phái đoàn chấp nhận . Đã có nhiều trường hợp đồng đội của tôi, vượt thoát qua Thái, đa số vẫn ăn dầm nằm dề ở trại, có người nản chí quay trở về Cam, có người cũng đã tự tử ngay ở trại, sau này cô qua trại sẽ thấy những gì tôi nói là sự thật.
Tờ mờ sáng, chúng tôi ra bến xe, nơi đây các xe chở hàng chạy bằng than cũ kỹ, sẽ dừng lại đón thêm khách. Mỗi khi có xe trờ tới, đám đông xô lấn leo lên, cuối cùng anh Long cũng đưa tôi và mẹ con chị Cải vào một xe bé xíu, bên trong chất đầy bao bố hàng hóa, anh dặn:
- Chút nữa khi vào cửa ngõ thành phố Cảng, sẽ có một trạm kiểm soát, cô cứ bình tĩnh như những gì tôi dặn tối qua.
Quả thật, xe chạy hơn một tiếng thì bị chặn lại, hai người lính Cam cầm súng AK lục soát xe, chất vấn tài xế, rồi hỏi tôi mấy câu, đại khái là đi đâu, đến đó làm gì, đến câu thứ ba tôi không biết trả lời, (vì học được đúng 2 câu), anh lính chĩa súng vào tôi ra lệnh bằng tiếng Cam, ra hiệu xuống xe. Chị Cải trả lời trơn tru nên được thoát, anh Long bước xuống theo tôi, nhìn vào trạm gác ngay lề đường, thấy ba cô bạn, đôi vợ chồng và hai chú lớn tuổi cũng đứng đó. Anh nói nhỏ bên tai tôi:
- Vậy là yên chí, tám người cứ vào đấy “nghỉ ngơi” vài ngày, ban tổ chức sẽ chuộc ra.
Đúng như anh nói, chúng tôi bị giam trong căn phòng phía sau trạm gác, có cơm nước do ban tổ chức đưa đến. Chiều ngày hôm sau, có tin nhắn buổi tối sẽ có 4 chiếc xe ôm đến đón đưa ra biển. Trời vùng biển tháng 12 tối thui, bốn chiếc xe phóng đi trong màn đêm, tôi nghe tiếng gió phần phật bên tai. Bỗng có tiếng xe đuổi theo phía sau, tiếng súng bắn chỉ thiên và tiếng chó sủa, bốn chiếc xe ôm tạt vào lề, là khu vườn lau sậy mênh mông, họ quát tháo bằng tiếng Cam, hối thúc chúng tôi xuống xe, rồi họ chạy biến đi trong đêm.
Chúng tôi, theo bản năng sinh tồn, chạy như bay vào vườn lau sậy, chạy càng nhanh càng xa, bất chấp phía trước mịt mùng, tránh xa tiếng chó sủa bắt đầu yếu dần rồi im hẳn phía sau. Mệt lả người, chúng tôi dừng lại, gọi tên nhau khe khẽ, tìm được 5 người, là tôi và hai cô bạn với hai vợ chồng, còn hai chú kia và một cô bạn chẳng thấy đâu. Anh thanh niên bảo, tạm thời là an toàn, nhưng đêm tối thế này, chúng ta nên ngồi xuống, chờ trời sáng tính tiếp, nếu buồn ngủ thì thay phiên nhau ngủ. Nhưng chẳng ai ngủ được, năm người ôm túi hành lý, dựa vào nhau, mắt mở thao láo. Chừng nửa tiếng sau, có ánh đèn pin và tiếng chân người lạo xạo, có hai người nói chuyện bằng tiếng Cam, rồi có tiếng gọi:
- Loan ơi! Loan ơi!
Tôi mừng rỡ nhận ra giọng anh Long, liền la lên:
- Tụi em ở đây anh ơi!
Anh Long cầm đèn pin và một anh lính Cam đeo súng, tìm được chúng tôi, anh thở phào:
- Vậy là đủ người rồi, đi thôi.
Anh Long đi bên cạnh tôi, thấy tôi vừa đi vừa run rẩy, anh lấy trong túi quần ra một chiếc khăn rằn, khoác lên người tôi:
- Cô ráng giữ ấm, kẻo lên cơn sốt như hôm ở nhà trọ thì mệt lắm, ở đây không có ai đi mua hủ tíu mì cho cô đâu!
Ra tới đường cái, bên kia đường là một trại lính khá kiên cố, có vọng gác và hàng rào kẽm gai xung quanh. Bước vào cổng trại, trong khi chờ anh lính đi gặp cấp trên, anh Long nói với chúng tôi trước khi chia tay:
- Đây là nhà giam cuối cùng, sau khi dàn xếp bên ngoài xong xuôi, là lên tàu ra biển.
Nhà giam, là một phòng khá rộng, có vẻ là hội trường của trại, chúng tôi vui vẻ đoàn tụ toàn bộ những người trên chuyến xe đò hôm nào, và thêm một số người khác, tổng cộng là 41 người, sẽ cùng chung chuyến tàu ra khơi.
Hơn một tuần ở nhà giam sướng như tiên. Ngày hai buổi họ mở cửa cho ra ngoài, vệ sinh tắm rửa, vận động chân tay. Cơm phục vụ đầy đủ do nhóm tổ chức cho người mang đến. Vui nhất là buổi tối, rảnh rang, có chàng hài hước kể chuyện cười vỡ bụng, có chú kia thích kể truyện Tàu, chị Cải kể chuyện từng sống ở đảo Baklon của Cam, nhóm trẻ chúng tôi xúm lại ca hát. Đêm mệt thì mỗi người gối đầu trên hành lý, chẳng có mùng mền vẫn ngủ ngon lành.
Chiều hôm đó anh Long xuất hiện với người đưa cơm, anh vào trong ăn với chúng tôi và nói: “Tối nay ra khơi!”. Ai nấy lo dọn dẹp hành lý, không cười đùa nữa vì biết giây phút quan trọng sắp đến. Từng nhóm ngồi rải rác trong phòng, im lặng, ánh đèn ngoài sân hắt vào phòng mờ ảo. Một cô lớn tuổi đứng lên:
- Xin mọi người vẫn ngồi yên vị, những người Công Giáo sẽ cùng đọc kinh. Còn ai có đạo gì có thể cầu nguyện riêng.
Rồi cô xướng kinh, anh Long ngồi kế bên tôi cũng đọc theo, từng lời kinh rõ mồn một. Hết 50 kinh, tôi hỏi:
- Anh có đạo à?
- Ừ, tôi gốc Bùi Chu mà! Sau 1975, gia đình tôi dọn vào khu Kinh 9, Cần Thơ ở đến nay.
Tôi chuyển đề tài, hồi hộp:
- Em lo quá anh Long ơi.
- Cô yên tâm, phần khó khăn trong đất Cam đã xong, chút nữa lên tàu ra biển, nếu thời tiết thuận hòa, nếu máy tàu êm xuôi, thì giờ này ngày mai cô đang ở bờ biển Thailand.
- Nghe mấy cái “nếu” của anh cũng đủ làm em run rồi. Từ trước đến nay, có chuyến nào đi bị thất bại, tàu chìm, hoặc gặp hải tặc không?
- Chắc chắn không có hải tặc vì tàu chạy ven biển. Các tàu ra khơi đều đến nơi bình an. Chỉ có hai lần khi ở Phnom Penh, nghe tin đường dây nhận hối lộ có mâu thuẫn nội bộ, tụi anh phải đưa khách trở về Việt Nam, vậy thôi!
Tôi yên tâm hơn, rồi nhìn anh, chân thành:
- Anh Long ơi, em muốn nói lời cám ơn anh, suốt thời gian qua đã chăm lo cho mọi người thật nhiệt tình, chu đáo, riêng em còn được anh “phục vụ” hủ tíu mì ...
Chưa nghe hết câu, anh buột miệng:
- Qua đếnThái, em ...à không... cô viết thư cho tôi nhé?
Tôi hỏi lại:
- Anh muốn em viết thư?
Anh bối rối, xua tay:
- Nói thế thôi, vì lời cám ơn của cô làm tôi nhớ những chuyến đưa người đi trước đây, có cô cũng xinh xinh như cô, nói cám ơn, nói qua Thái sẽ viết thư cho tôi, nhưng rồi chẳng có lá thư nào. Tôi bị mấy lần cho leo cây như thế, nên rất sợ mấy cô xinh xinh hứa nhưng không làm.
- Anh nói em cũng ... “xinh xinh” ư? Vậy thì anh nghe đây, lời hứa danh dự của em, là khi qua trại, việc đầu tiên em sẽ viết thư cho gia đình và cho anh, để anh thấy không phải cô “xinh xinh” nào cũng hứa lèo, nhưng em gửi thư về đâu ?
- Cô cứ gửi cho gia đình cô chuyển giùm, vì tôi và anh Minh phải đến nhà cô thâu 3 cây vàng.
Tôi lấy chiếc khăn rằn trong giỏ hành lý:
- Em gửi lại anh chiếc khăn, và một lần nữa, cám ơn anh thật nhiều, vì tất cả.
Anh cầm chiếc khăn, quàng lên vai tôi:
- Cô hãy giữ chiếc khăn này, tôi đã mua để tặng cô, làm kỷ niệm xứ Chùa Tháp.
Lúc đó, một chiếc xe nhà binh (xe cam nhông) tiến vào cổng, dừng trước phòng giam, anh Long bật dậy, kêu gọi mọi người mau chóng ra ngoài. Anh và vài thanh niên leo lên xe, lần lượt giúp từng người lên, tôi đang chờ tới lượt thì anh lại gọi tên tôi:
- Loan! Loan! Ra đây, ra đây!
Rồi đi về phía anh, được anh kéo lên thùng xe, tất cả nằm đè lên nhau, xe chạy vun vút, có khi tôi nghe cả tiếng lá cây cọ quẹt vào thành xe những âm thanh chát chúa. Tới bờ biển, xe dừng lại, các người dẫn đường khác chạy ra từ một bụi cây, hướng dẫn chúng tôi chạy xuống chiếc thuyền đang đậu sẵn. Cả 41 người lên thuyền, nặng chịch, mạn thuyền cách mặt nước chưa đầy gang tay, anh Long kêu những thanh niên biết bơi cùng xuống dưới nước, phụ với nhóm dẫn đường, bám theo mạn thuyền, đưa thuyền đến với chiếc tàu ngoài giữa biển. Đến nơi, anh Minh chủ tàu đứng trên boong rọi đèn pin, hễ ai bước lên là đẩy ngay xuống hầm tàu. Vì anh Long vẫn đang ở dưới biển để đỡ con thuyền khỏi bị lật khi đám người đổ dồn về phía tàu lớn, nên tôi không có cơ hội bắt tay anh tạm biệt. Cái bắt tay tôi đã dự định, cái bắt tay duy nhất, lần đầu cũng có thể là lần cuối, đã không thực hiện được.
...................................................................
Đến trại tỵ nạn Panatnikhom, tôi viết ngay lá thư dài, kể cho gia đình chi tiết chuyến đi, ở đoạn cuối tôi viết cho chị tôi: “Chị Thanh, nhờ chị chuyển lá thư kèm theo cho anh Long khi họ quay lại lấy vàng, nhé!”. Thư cho anh Long chỉ một mặt giấy, viết lại những lời cảm ơn chân thành tôi đã nói với anh đêm cuối, vì mục đích chính chỉ là thực hiện một lời hứa danh dự, để anh bớt thành kiến với mấy cô “xinh xinh” . Viết không đầy một trang, dư chỗ tôi bèn viết thêm địa chỉ của tôi ở trại và nhắn: “Anh Long, nếu có thời gian rảnh thì viết thư cho em, còn nếu bận thì không sao cả! Chúc anh nhiều sức khỏe và may mắn trong cuộc sống”.
Rồi chị tôi thay mặt gia đình viết thư hồi âm, kể cho tôi nghe chuyện gia đình, hàng xóm, và tái bút gọn gàng: “Đã chuyển thư cho Long, em yên tâm”. Đọc thư xong, lòng tôi nhẹ nhàng phơi phới, đã trả nợ xong lời hứa.
Cuộc sống ở trại có đủ buồn vui, qua vài lần chuyển trại, tôi đánh mất chiếc khăn rằn, kỷ niệm của anh Long và xứ Cam. Đôi khi bốn đứa con gái chúng tôi nhớ về chuyến đi, nhắc đến anh Long, tôi lại thầm nghĩ, chắc anh bận rộn nên không viết thư cho tôi, mà suy cho cùng, có gì để mà viết, nhưng ít ra anh cũng đã hiểu rằng không phải cô “xinh xinh” nào cũng thất hứa.
Sau bốn năm ở trại tỵ nạn, tôi đi định cư Canada. Rồi sau đó hàng năm bay qua Mỹ thăm gia đình tôi cũng đã định cư ở Mỹ. Mới đây, khi nhắc về chuyến vượt biên dừng chân ở Cambodia, tôi nói về anh Long, người dẫn đường dễ thương tận tình, rồi nói với chị tôi:
- Trong lá thư đầu tiên gửi về nhà, em có nhờ chị chuyển thư cho anh Long, rồi chẳng thấy anh ấy viết cho em dù một lá thư.
Chị tôi... thú tội:
- Lá thư ấy đã không bao giờ gửi.
Thì ra, chị đã đọc thư, tự kiểm duyệt và tự quyết định. Chị lo xa, sợ tôi và anh Long có tình ý gì sẽ... khổ cả hai, còn nếu không (hoặc chưa) có tình ý gì, thì cũng nên... phòng cháy hơn chữa cháy, xé bỏ lá thư là thượng sách, “an toàn trên xa lộ”.
Tôi giải thích cặn kẽ cho chị nguyên do tôi viết lá thư đó, chị đã hiểu ra, và thấy tiếc nuối ân hận vô cùng. Chị nhớ lúc Long và anh Minh chủ tàu đến nhà tôi lấy vàng, Long có chần chừ hỏi thăm tôi vài câu, có lẽ có ý mong chờ, nhưng chẳng có lá thư nào cho anh.
Anh Long ơi, nếu anh đọc được bài viết này, thì xin anh nhận nơi đây lời xin lỗi của em, vì đã đánh mất chiếc khăn rằn của anh tặng, và xin lỗi vì ngần ấy năm, em đã để anh thất vọng, tiếp nối vào danh sách các cô “xinh xinh” ... thất hứa!
Chị của em cũng gửi lời xin lỗi anh.
Và khi anh đọc đến dòng cuối này, anh hãy xem như đã nhận lá thư năm ấy của em, được không?
Edmonton, Tháng4/2026
KIM LOAN
Ở xứ Bắc Mỹ này chúng ta không lạ gì các bảng hiệu ở một số cửa hàng “Open 24 hours” nghĩa là mở cửa cả ngày lẫn đêm .
Nhưng cũng chưa rõ nghĩa lắm, bởi sẽ có người cắc cớ hỏi “ 24 hours nhưng có ngày nào nghỉ không”, thế là có ngay các tiệm “24/7” tức là mở cửa 24 giờ một ngày và 7 ngày trong tuần.
Vẫn chưa hết, có lần ở Arlington, Texas thăm gia đình, tôi đã thấy một tiệm Walmart rộng lớn bề thế, khách ra vào tấp nập, dĩ nhiên là mở cửa 24 hours, với tấm bảng thật to và hàng chữ đầy kiêu hãnh: “ WE NEVER CLOSED”, vậy là khỏi có ai thắc mắc suy nghĩ cho mệt đầu mệt óc!
Tháng 8/2021 tôi bay qua Arlington dự đám tang của Ba .Tối hôm đó, khoảng hơn 10 pm, tôi cần một món đồ, nhưng các cửa tiệm khác đều đã đóng cửa, tôi chợt nhớ đến Walmart và nói với anh tôi:
- Ôi, may quá, còn tiệm Walmart “never closed”, chúng ta hãy đến đó!
Anh cười:
- Hồi năm 2020, khi dịch Covid đến cao điểm thì tiệm đó đã phải đóng cửa cuối tuần, còn hàng ngày chỉ mở đến 10 pm, bây giờ vẫn còn đang dư âm mùa dịch, nên tiệm tuy đã mở lại 7 ngày nhưng chỉ đến 10 pm thôi em ơi! Còn đâu cái thuở Never …
Cái bảng “We Never Closed” làm chúng ta liên tưởng đến câu slogan của tàu Titanic trước đây : “ It is unsinkable. Even God himself could not sink this ship” , (tạm dịch là , con tàu không thể chìm, ngay cả Thượng Đế cũng không thể làm con tàu này chìm), và kết quả ra sao thì ai cũng biết rồi .
Cả hai câu trên, là một sự kiêu ngạo, thách thức đấng tạo hóa, coi thường vũ trụ thiên nhiên, khi thực tế rất rõ ràng, rằng trần gian này, chẳng có gì là mãi mãi .
Té ra, cái câu “Never say Never” luôn luôn đúng. Mà ngay cả câu này cũng bắt đầu bằng “Never” là cũng không nên, thôi dịch qua tiếng Việt cho nhẹ nhàng, bớt “kiêu hãnh”:
- Đừng nói ...Không Bao Giờ!!
Nhân đây, tôi xin kể một câu chuyện, cũng liên quan đến “Không Bao Giờ”.
Con tàu vượt biên của chúng tôi dạt vào bờ biển Thailand một đêm tối tháng 12 năm ấy, cả 41 người đứng co ro trên bãi đá ong, nhưng không thể bơi vào bờ vì mực nước sâu, vả lại trong nhóm còn có người già và trẻ con, nên có hai cậu thanh niên trẻ tình nguyện bơi vào làng chài gần đó, cầu cứu, và họ đã mang hai con thuyền tam bản đến gần chỗ chúng tôi. Qua lời thông dịch của một người biết tiếng Thái trong tàu, họ chỉ cho phép mỗi lần 3-4 người leo lên thuyền, đưa họ tiền vàng, họ sẽ cho vào bờ, rồi lại quay lại tiếp tục cho đến khi hết 41 người . Chúng tôi lần lượt xếp hàng, cũng có người nóng vội chen lấn, trong đó có chú Sanh và thằng con hơn 10 tuổi, vừa bước ra khỏi bãi đá ong, lội hướng ra con thuyền thì bị ai đó đẩy lại, té xuống biển, sặc nước . Chú vừa quay lại bãi đá ong, mặt tức tối:
- Thằng Băng! Nó đẩy hai bố con tôi xuống biển, từ nay tôi sẽ không bao giờ nhìn mặt và nói chuyện với nó nữa.
Nhiều người góp ý:
- Chắc trong lúc lộn xộn nên hắn vô ý thôi!
Chú Sanh vẫn gân cổ:
- Không thể vô ý được! Nó cùng hai cha con tôi bước ra khỏi bãi đá, nó phải biết chớ! Suốt hai tuần qua ở Cambodia tui bao nó ăn uống, bây giờ nó đành đoạn tranh giành lên thuyền trước với cha con tui! Tui thề …
Tôi liền xen vào:
- Thôi chú ơi, con vẫn nghĩ chỉ là bản năng tự nhiên khi chấp chới dưới nước, vì trước sau ai cũng lên bờ mà, có gì mà giành giựt?
Chú vẫn không yên, mặt sưng sỉa, lẩm bẩm suốt buổi, cho đến khi cả nhóm được đưa vào bờ an toàn, đầy đủ .
Khi nhập trại lớn, nhóm tàu chúng tôi ở gần nhau, chung một khu nhà, và hôm đó tôi thấy chú Sanh ngồi ăn nhậu với chàng Băng mà chú đã từng thề không nhìn mặt. Sau đó chú có giải thích với tôi:
- Cô biết không, tại hắn mở lời xin lỗi, nên tui tha thứ bỏ qua cho nó.
Tôi cười mỉm chi:
- Thì con đã từng nói với chú mà, đừng bao giờ thề “không bao giờ!” như đinh đóng cột, rút kinh nghiệm nghen chú .
Thời gian sau đó, trại có cuộc biểu tình quy mô lớn để chống lại chương trình cưỡng bách hồi hương . Nửa khuya, theo sự sắp xếp, cả trại nghe tiếng nồi niêu xoong chảo khuấy động, rồi nhà này nối tiếp nhà kia, từng đoàn người lũ lượt kéo nhau ra cổng trại, phá hàng rào, thông qua trại bên cạnh, biển người như làn sóng phô trương sức mạnh của đoàn người tỵ nạn quyết không chịu lùi bước, không muốn quay về nơi chốn đã dứt áo ra đi . Sau khi phá trại, đoàn biểu tình quyết định …ôn hòa, sẽ ngồi ngoài đường cái, bên cạnh dàn xe tăng súng ống của lính Thái, qua hai ngày đêm, và chuẩn bị cho ngày cuối, sẽ có người tự thiêu, cả trại sẽ đeo tang trắng bằng giấy, đòi hỏi Cao Ủy phải xuất hiện, giải quyết vấn đề .
Đêm đó chú Sanh đến nhà bốn đứa con gái chúng tôi, vì tôi làm Bưu Điện nên có nhiều giấy, bút màu bút lông, mấy ngày qua đã giúp viết biểu ngữ, khẩu hiệu cho cuộc biểu tình . Chú nói:
- Cô Loan, cô viết trên chiếc khăn tang của tui hàng chữ: “Thề không về với Cộng Sản!” để ngày mai tui đeo .
Trong khí thế sôi sục của đoàn biểu tình, khuôn mặt chú hừng hực kiên quyết, tôi hiểu nỗi lòng của chú, là một Thiếu Úy VNCH, ở tù cải tạo 3 năm, đã bỏ nước ra đi thì dĩ nhiên, chẳng ai muốn về lại nơi chốn ấy .
Cuộc biểu tình cũng kết thúc khi chưa có người tự thiêu thì đã có máy bay trực thăng của Cao Ủy từ Bangkok bay xuống trại tỵ nạn, khuyến khích người tỵ nạn bình tĩnh, ai về nhà nấy, chấp hành chương trình “thanh lọc” của nước chủ nhà, rồi sau đó hạ hồi phân giải .
Hai năm sau, tôi và chú Sanh trong số ít người may mắn của nhóm tàu được đậu thanh lọc, sau đó chú đi Mỹ, tôi đi Canada .
Ổn định cuộc sống trên quê hương thứ hai một thời gian, nhờ công nghệ Facebook, chúng tôi những người cựu tỵ nạn Thailand tìm được nhau trên Group Facebook, và từ đó có nhiều người, dù không quen hay đã quen lúc ở trại, gửi “friend requests” là tôi chấp nhận liền, khỏi cần rà soát “lý lịch trích ngang”, nên chú Sanh cũng là trong “friend list” của tôi .
Lúc đầu, hỏi thăm qua lại, nhắc nhớ những người chung chuyến tàu, kể nhau nghe cuộc sống hiện tại, chú kể đã bảo lãnh vợ qua, hai vợ chồng đi làm hãng gà, thu nhập ổn định .Vậy thôi, đâu còn chuyện gì để “tâm tình”, vì cách biệt tuổi tác cũng như tính cách nên hầu như không còn liên lạc thường xuyên trên facebook.
Thỉnh thoảng, khi lướt facebook, tôi cũng biết được cuộc sống của gia đình chú . Thằng con trai năm nào đi vượt viên cùng chú, đã vào được Đại Học Nha Khoa, nên hai vợ chồng chú, dù chưa đến tuổi hưu, đã bắt đầu mỗi năm về Việt Nam chơi cả tháng trời .
Quê hương Việt Nam là của chung tất cả những người con Việt, dù tha hương với bất cứ lý do gì, khi có chuyện cần thiết, thăm gia đình họ hàng, trở về xóm xưa bạn cũ… là chuyện bình thường .
Tuy nhiên, chú… ca ngợi “đất nước mình giờ đẹp lắm, thay đổi nhiều lắm, đường xá cầu cống biệt thự đẹp khắp nơi …” (Ủa ủa, năm mươi năm kể từ tháng Tư Đen, dù là chính quyền nào, cũng phải tu bổ xây dựng theo sự phát triển chung của thế giới chớ! Còn những vụ rút ruột công trình, tham nhũng đút lót, những con đường xây chưa được ba bảy hai mốt ngày đã hư hỏng, rồi các bệnh viện la liệt bệnh nhân và người nhà ngoài hành lang, mỗi sáng xếp hàng dài chờ cơm từ thiện, sao hổng thấy chú …khen!?) . Nếu là một đứa trẻ sinh ra và lớn lên ở hải ngoại, hoặc lớp trẻ rời Việt Nam khi còn nhỏ, thì không nói làm gì, đàng này chú đã sống với chế độ ấy, ở tù khốn khổ, rồi đi vượt biên đầy hiểm nguy … mà lại có những nghĩ suy như thế thì tôi cũng chịu thua .
Chưa hết, vợ chồng chú còn chụp hình cận cảnh dĩa bánh cuốn, dĩa cơm tấm “full topping” ở quán vỉa hè, tấm tắc xuýt xoa giá cả chỉ có 3 đô Mỹ, nếu ở bên Mỹ thì phải tốn ít nhứt 15 đô! ( Ủa ủa….?! Mà thôi, tôi chẳng thèm nói nữa, mất thời giờ!)
“Dzui” nhứt là hình chú ngồi quán cafe đầu hẻm xóm cũ bên ly cafe, cảm thấy “bình an, hạnh phúc”, được sống chậm, sống nhiều thời gian hơn bên xứ Utah Mỹ Quốc lạnh lẽo mùa đông, mới 4 giờ chiều trời âm u, tối thui . Chú đang cân nhắc, tính toán sẽ về Việt Nam sinh sống khi tới tuổi hưu để… an hưởng tuổi già nơi “chùm khế ngọt” . Tôi thật sự chỉ muốn “unfriend” chú Sanh ngay lập tức, vì đã quá thất vọng chán chường, những người như chú cũng không ít (buồn thay), tóc muối nhiều hơn tiêu, mà còn thế thì trách chi bọn trẻ!?
Nhưng tôi lại nghĩ, cứ để đấy, để chờ ngày vợ chồng chú dọn về Việt Nam sống như “mơ ước” được bao lâu, lúc ấy “unfriend” cũng chưa muộn .
Bẵng đi một thời gian khá lâu, tôi lại thấy chú đăng tấm hình chú ngồi trong phòng bệnh viện ở Utah đang chăm sóc vợ sau ca mổ .
Chú viết: “ Hôm nay vào thăm vợ, các bác sĩ chuyên khoa, các y tá, ân cần nhỏ nhẹ ngọt ngào, trả lời mọi thắc mắc của chúng tôi. Phòng bệnh rộng rãi, sáng đẹp, mọi thứ không chê vào đâu được . Thú thật, tôi đã từng có ý định về hưu sống ở quê hương, nhưng nay thì chắc chắn là không! Mỹ là quê hương thứ hai, và cũng sẽ là nơi chúng tôi ở lại cho đến cuối cùng cuộc đời . Con trai chúng tôi nghe vậy mừng lắm …”
Tôi cũng … mừng nữa nè, chú Sanh ơi! Mừng cho chú, vẫn giữ được lời thề “Never” năm xưa, và không bị lọt vào danh sách đen thui mà tôi đã “khoanh tròn” trong facebook list những kẻ “ăn cây táo rào cây sung” .
Edmonton, April/ 2026
Bạch Liên Bạch Liên KIM LOAN
Cùng trên một con đường, nhà tôi cạnh nhà Thức, cách 2 căn nữa là nhà Vân Ù và tiếp theo là nhà Liên. Bốn đứa chúng tôi chơi thân nhau từ bé và cùng lứa tuổi.
Trước 1975 đoạn đường này, nhà nào cũng có cửa hàng buôn bán.
Bố mẹ Thức bán quán giải khát giống như nhà tôi, sau 1975 chuyển sang bán bún riêu trước cửa nhà, Thức có hai người chị là giáo viên.
Nhà Vân Ù đâu kém gì, trước 1975 là một depot lớn chuyên bán bia, nước ngọt, nước đá, mỗi ngày xe hãng BGI đến giao hàng chục két bia hàng chục cây nước đá, những cây đá này chất đầy trong một cái tủ lớn và ủ trấu, sẽ bỏ mối và bán lẻ cho khách hàng. Người ta gọi bố mẹ Vân Ù bằng cái tên nghề nghiệp "Ông bà Đề Pô".
Vào ngày tang thương 30/4/ 1975 bà "Đề Pô" tử nạn vì bị lạc đạn chẳng biết của phe nào, tiền bạc gửi trong ngân hàng Việt Nam Thương Tín bị chính quyền mới tịch thu, nước mất nhà tan. Sau đó bố Vân Ù nghe theo lời dụ dỗ (kèm theo đe dọa) của mấy cán bộ phường, đưa hai con trai lớn đi vùng kinh tế mới, Vân Ù còn người chị bán xe nước mía ở cổng chợ ngoài ngã tư và hai đứa em trai. Họ sống đạm bạc từng ngày. Có lần tôi thấy Vân Ù ăn cơm với rau lang chấm chao có vẻ ngon lành, nó mời tôi ăn thử nhưng tôi không dám ăn vì không chịu nổi mùi chao.
Nhà Liên thì khá hơn hẳn, mẹ nó có một sạp bán cá ở chợ Hạnh Thông Tây, một mình bà ngồi "quản lý" 3 chậu cá to tướng và luôn tay làm cá theo yêu cầu của khách hàng. Nói theo kiểu bây giờ thì mẹ Liên là "đại gia bán cá", thời buổi bao cấp mà nhà Liên thường xuyên ăn những món có cá ngon như cá thu sốt cà, chả cá thác lác, cá lóc kho tộ, có đôi lần bán cá còn dư, mẹ Liên cho bốn đứa chúng tôi ăn cháo cá, ngon lắm!
Miền Nam bị “giải phóng” khi chúng tôi 9 tuổi, chính quyền mới kiểm soát người dân bằng “hộ khẩu” mà dân mình hay gọi là “hậu khổ” và mạng lưới “tổ dân phố”. Thời gian đầu, người ta còn chịu khó đi họp tổ dân phố hàng tháng, rồi sau đó ai cũng …ngán, phần vì phải lo cơm áo gạo tiền thời bao cấp, và phần lớn chẳng ai còn tin vào những “đường lối chủ trương” của nhà nước, nên thỉnh thoảng ba kêu tôi thay mặt “chủ hộ” đi họp vì lúc ấy, sau mấy năm đeo “khăn quàng đỏ” đi sinh hoạt Đội, tôi đã học lớp 7, cũng đủ cao lớn. Nhà thằng Thức, con Vân Ù, con Liên cũng được cha mẹ nó “cử” đi họp. Thế là mỗi khi có họp tổ dân phố là chúng tôi thích lắm, vừa được việc cho nhà mình vừa được dịp ngồi nghe chòm xóm tán dóc. Thức là đứa hiền lành, siêng học, đi họp lúc nào mang theo cuốn vở để học bài, còn tôi, Liên và Vân Ù đi họp tay không để còn rảnh…hóng chuyện xung quanh.
Bốn đứa chúng tôi, cũng như mọi người, hễ ai giơ tay “nhất trí” điều gì thì cũng nhanh tay “đồng ý” lẹ lắm, dù chẳng biết người ta đang “nhất trí” chuyện gì! Chàng công an khu vực cười sung sướng viết vào biên bản, báo cáo buổi họp “thành công rực rỡ” trong khi mọi người chỉ mong mau kết thúc buổi họp. Vân Ù thì thầm vào tai tôi:
- Tối nay có kịch Lá Sầu Riêng, họp xong tụi mình chạy nhanh về xem tivi cho kịp.
Mà nhà nó làm gì còn tivi (vì đã bán hết tivi, tủ lạnh để tiếp tế cho ba và hai anh nó cầm cự trên vùng kinh tế mới nước độc rừng thiêng), nên nó phải xem ké tivi nhà tôi đấy chớ. Trong xóm, cứ tối thứ năm có phim và tối thứ bảy có kịch hoặc cải lương, là lũ trẻ con (và cả mấy bà mấy cô người lớn) kéo nhau đến các nhà có tivi luôn mở rộng cửa đón chòm xóm vào xem, niềm giải trí đơn sơ hạnh phúc của mọi người sau một ngày vất vả chuyện áo cơm.
Ngoài chuyện đi họp tổ dân phố, chúng tôi còn "đảm đang" đi xếp hàng mua gạo, mua nhu yếu phẩm, mua chất đốt dầu hôi, những cửa hàng này chẳng cách nhà bao xa. Gọi là "mua gạo" nhưng gạo thì ít, mà còn có chất độn thêm, là bột mì, mì sợi, khoai lang, khoai mì, các hộ dân mua về chế biến theo cách của mình. Thế là nhà nhà nấu bánh canh, mì sợi hấp cơm ăn với nước mắm chua ngọt hoặc đem mì xào với giá hẹ cũng ngon, còn khoai lang khoai mì luộc, nếu ngán thì đem làm bánh đổi khẩu vị. Gạo hoặc nhu yếu phẩm mua xong thì để lên yên sau xe đạp, dắt bộ về nhà. Ở cửa hàng nào cũng phải “Xếp Hàng Cả Ngày” chờ đợi, ai sốt ruột nhưng bốn đứa chúng tôi thì không, cứ thong thả nói chuyện cho tới khi tới lượt mua hàng.
Một hôm Vân Ù phát giác ra một tin vui chạy qua nhà tôi, đưa tôi miếng bánh mì còn nóng:
- Ăn đi, ngon lắm!
- Mày mua ở đâu hả?
- Đâu có, tổ lương thực kỳ này bán bột mì nhiều quá, chị tao đem đổi bên lò bánh mì, tụi bay muốn đi đổi bánh mì không?
- Ừ, để tao chạy qua rủ Liên và Thức.
- Tao đã đến nhà Liên, mẹ nó nói nó bị nhức răng không đi được.
Tôi và Thức về nhà xin phép người lớn, rồi mỗi đứa xách một bọc bột mì theo Vân Ù, ba đứa hai chiếc xe đạp rộn ràng tiến thẳng đến lò bánh xứ Hợp An, Xóm Mới, đổi được những ổ bánh mì mới ra lò thơm phức.
Cả đám lại vui vẻ đạp xe về, nói đủ thứ chuyện trên đời, rồi bàn chuyện… ăn bánh mì. Thức nói:
- Sáng mai chiên quả trứng kẹp vào bánh mì ăn là tuyệt vời.
Vân Ù hớn hở:
- Tao thích ăn bánh mì với chuối.
Tôi khai thiệt:
- Chị tao mới làm thức ăn đi thăm nuôi chồng “cải tạo”, còn chừa lại ít thịt chà bông, ăn với bánh mì rắc chút tiêu là hết sẩy.
Vậy đó, niềm vui tuổi niên thiếu của chúng tôi dễ thương hồn nhiên biết bao.
Rồi chúng tôi không thấy Liên chơi trong xóm nữa, hỏi thì mẹ nó nói nó về khu Ông Tạ nhà bác nó để… nghỉ hè, và một tháng sau trong xóm đồn ầm ĩ chuyện Liên và ba nó vượt biên tới đảo, tụi tôi rủ nhau đến xem hình. Những tấm hình Liên đứng bên bờ biển Bidong, Malaysia rạng rỡ, mẹ Liên bảo trong thư gửi về nó có hỏi thăm bạn bè, khiến chúng tôi chạnh lòng, khát khao một chuyến đi xa, đổi đời nơi đất nước mới. Hai tháng sau, anh Năm của tôi cũng vượt thoát đến Songkhla, Thailand. Vân Ù và Thức nói với tôi:
- Vậy là mày sướng rồi, sắp được lãnh đồ Mỹ!
- Tao hứa, khi nào có đồ Mỹ, có sô- cô- la, tao sẽ chia cho tụi bay nếm thử.
Vài năm sau đó, tôi và Thức vào lớp 10, nhưng mỗi đứa một trường khác nhau, còn Vân Ù phải nghỉ học phụ chị nó buôn bán ưu tiên cho hai đứa em tiếp tục ăn học. Bố và mấy anh nó tơi tả rách rưới trở về từ kinh tế mới, hai người anh phải cấp tốc đạp xích lô kiếm tiền, bố bị bệnh suy dinh dưỡng, Vân Ù càng đảm đang chuyện gia đình, chúng tôi ít còn dịp gặp nhau như trước nữa.
Bữa đó tôi đi qua chợ, Vân Ù kéo tôi vào, bí mật:
- Mày có biết chuyện thằng Thức đi vượt biên hai tháng nay vẫn chưa có tin tức gì chưa?
- Tao cũng mới nghe ba tao kể, buồn và thương Thức quá Vân ơi.
Lúc này, phong trào vượt biên rầm rộ, gia đình tôi may mắn có thêm một anh trai nữa đến đảo, và tôi sống trong tâm trạng “thân nơi này nhưng tâm trí mơ tưởng… bên kia bờ đại dương” vì tôi biết tôi sẽ là người trong gia đình được kế tiếp “lên đường” khi có chuyến vượt biên, nay nghe tin Thức như vậy, lòng tôi xốn xang và buồn vô tả.
Trong xóm cũng có vài người vượt thoát, nhưng cũng có những người “đi không đến nơi về không đến chốn” như thằng Thức của chúng tôi và sau này có thêm nhỏ bạn thân cấp ba nữa, tôi sẽ kể vào một dịp khác. Điều đau đớn nhứt, là đến nay vẫn không ai biết những con tàu đó ra sao, nên cứ xem như họ đã bỏ xác ngoài biển đông và người nhà lấy ngày ra khơi để làm giỗ.
Cuộc sống vẫn phải tiếp tục, tôi học xong cấp 3, vào Sư Phạm rồi ra trường đi dạy, bận rộn với công việc mới, bạn bè mới, hầu như không còn thời gian cho bạn bè trong xóm, chỉ thỉnh thoảng có dịp đi qua chợ, tôi và Vân Ù nhìn thấy nhau, mỉm cười rồi thôi, tôi lại tiếp tục đi làm, nó lại miệt mài với xe nước mía, nay có bán thêm món chè đá đậu.
Sau hai lần vượt biên không thành, tôi cũng đến trại tỵ nạn Thailand cuối năm 1989, bỏ lại quê hương và xóm nhỏ với nhiều kỷ niệm từng làm tôi thao thức những đêm khó ngủ nơi trại tạm dung. Tôi đã có những buổi chiều lang thang trong trại Panatnikhom với nhiều nhung nhớ:
CHIỀU PANATNIKHOM
Có những buổi chiều Panatnikhom
Tôi lang thang nhìn theo làn mây trắng
Thương những con thuyền trôi trên biển vắng
Phiêu bạt nơi nao chưa thấy bến bờ?
Kìa gió, kìa mây sao quá hững hờ
Có ghé qua đảo Kra, đảo hải tặc?
Bao cô gái Việt Nam đang bất hạnh
Trong thú vui thể xác của lũ điên cuồng
Và đảo Klong-Yai tang tóc, u buồn
Lương tâm con người vẫn còn lạ lẫm
Khi đồng loại tìm tự do, cùng quẫn
Vượt đại dương bất chấp những hiểm nguy
Đất Thái bao la cũng rất từ bi
Banthad, Songkhla, Sikiew, Panat…
Mở rộng vòng tay với tình ấm áp
Sưởi tâm hồn những kẻ sống tha phương
Nên những chiều Panat thật thân thương
Để bâng quơ dịu dàng với nỗi nhớ
Nhớ quê nhà nghìn trùng xa cách trở
Nhớ gia đình, nhớ những bạn bè thân
Nên những chiều Panat thật bâng khuâng
Niềm vui, nỗi buồn đan xen bối rối
Tương lai phía trước mở đường đưa lối
Còn sau lưng những hờn tủi vô biên
Những buổi chiều ấy chẳng thể nào quên
Dưỡng nuôi tôi một đoạn đời tuổi trẻ
Tôi lớn lên trong lịch sử dâu bể
Ngậm ngùi vết thương xa Tổ Quốc, lưu vong
Những buổi chiều xưa vẫn ở trong lòng
Tháng Tư về, lại bồi hồi trông ngóng
Biển Đông mênh mông một thời dậy sóng
Của những thuyền nhân khao khát tự do!
(KimLoan)
………
Giờ đây, mấy chục năm đã trôi qua, mỗi mùa Tháng Tư Đen trở về, tôi lại bồi hồi nhớ những ngày tháng ấy, xóm cũ, bạn bè cũ tản mác khắp nơi, chỉ có vài đứa còn ở lại xóm, trong đó có Vân Ù. Nó lấy chồng muộn màng, tuổi lớn khó sinh con, mãi mới được đứa con gái năm nay được hơn hai mươi tuổi, cũng mang “gen” của mẹ nên cũng hơi “Ù”. Tôi cũng đã tìm được Liên trên facebook, nó vẫn ở Florida từ trước đến nay, đã ly dị chồng hơn chục năm, hiện ở một mình vì con cái đã ở riêng. Niềm vui của nó là đi Chùa, đi du lịch và làm việc từ thiện đó đây sau khi quyết định nghỉ hưu sớm.
Và tôi lại ước ao, nếu có kiếp sau, chúng tôi vẫn sinh ra là người Việt Nam, nhưng không có Cộng Sản, đất nước tự do thanh bình, để Vân Ù không phải vất vả, dở dang đường học vấn, để Thức không phải bỏ xác nơi biển sâu nước lạnh, để tôi và Liên không phải sống tha hương. Chúng tôi, cùng đám bạn bè trong xóm sẽ cùng nhau trưởng thành, cuộc sống an lạc bình thường, vui buồn trên quê hương thân yêu.
Giấc mơ đẹp quá. Tôi bừng tỉnh dậy, tiếc nuối bâng khuâng!
Edmonton, Tháng4/2026
KIM LOAN Trần Thị Hiếu Thảo Trần Thị Hiếu Thảo ĐẶNG XUÂN XUYẾN ĐẶNG XUÂN XUYẾN Chu Diệp Chu Diệp 9. ĐỌC LẠI "VÀI CẢM NHẬN VỀ PHIM BỐ GIÀ" CỦA ĐẶNG XUÂN XUYẾN Nguyễn Văn Nguyễn Văn 10. CÁI LÝ NGŨ HÀNH CỦA ĐẶNG XUÂN XUYẾN THIÊN VIỆT THIÊN VIỆT IV. Hộp Thư Toà Soạn
Nguyệt San Giao Muà xin cám ơn những thân hữu đã dóng góp bài vở cho Nguyệt San Giao Muà số 284 . Một số bài khác sẽ được đăng dần vào số tớị Mong mỏi sẽ nhận được những sáng tác của các bạn bốn phương để cho Nguyệt San Giao Muà thêm phần hương sắc trong tương laị
Thể lệ để nhận Nguyệt San Giao Muà:
1) Ðể vào danh sách của NSGM (subscribe),
xin gửi email về GiaoMua2025@gmail.com
Ðịa Chỉ Liên Lạc:
Nguyệt San Giao Muà
Copyright
2002 by Giao Muà e-magazine and respective authors
1. MẸ CHỒNG…. HẮC ÁM
Ngày nóng cháy trải dài những sợi nắng chói chang, như muốn cho thế nhân biết độ nóng bức ra sao, trước khi khép cửa, nhường không gian cho nàng Thu lãng mạn bước vào.
Mùa hè mặt trời thức dậy sớm hơn, do cái tánh siêng năng thích leo dốc lên thiên đỉnh. Ông mặt trời tủm toe cười duyên, trước khi phố phường choàng tỉnh, bắt đầu cho một ngày mới.
Tôi còn nhớ ngày xưa khi về thăm Ngoại ở miệt vườn, trong cái vuông bếp nhỏ gọn của Ngoại, là những ông lò bằng đất nung màu nâu đỏ rất đẹp. Có nơi bếp lò chỉ vỏn vẹn là ba cục gạch đơn sơ cùng kích cỡ, được đặt chông chênh theo vị trí của ba góc tam giác. Thế là, ta đã có những bếp lò mộc mạc, thích hợp trong đời sống hiền hòa của hương thơm đồng nội.
Lúc ấy, tôi còn nhỏ tí teo, nên ít được phép cho đứng quanh quẩn trong bếp lắm. Thoạt đầu, những khúc củi khô được đặt xiên xẹo dưới ông lò, chéo qua chéo lại. Khoảng cách của các khúc củi giao nhau, sẽ giúp cho không khí luồn lách bay vào. Lực thổi càng mạnh thì ngọn lửa mau phựt cháy.
Cọng rơm mỏng manh yếu gầy đến tội nghiệp, bị nhồi nhét vào trong hỏa lò, để chiêu dụ mấy anh củi bừng bừng nóng rang, mà cháy theo. Chao ơi, ngọn lửa ùa tràn, thúc hối mấy anh củi nào còn biếng lười, chưa chịu ỏng a làm dáng ửng hồng màu cam đỏ rực. Bếp lò xa xưa ấy, nay đã cách xa tôi nửa vòng trái đất.
Tầm tay tôi với cao, cố níu giữ khung trời tuổi dại. Hy vọng những kỷ niệm diệu kỳ đó, cho tôi thoáng nhớ một chút hương xưa. Từng giây phút nhỏ nhặt cũng đều là hoài niệm. Tất cả ầu ơ quay về trong nỗi nhớ. Và cùng nhau lăn tăn trải dài thành nhiều dòng chữ, trên trang giấy hiền hòa hôm nay.
Đây là khoảnh khắc ngọt ngào, vẽ vời nhiều đoạn hồi ức dễ thương !
THÁNG 5 - 2026
Kim Khánh đang đứng nơi gần các cụm bông của ngôi nhà phía trước, có hoa cẩm tú cầu, hoa thạch
thảo, hoa nguyệt quế. Hoa thạch thảo là phần nhiều. Người tài tử đó giờ đây đứng nhìn ra biển vỗ trên
các vách đá kia, cách nhà không xa lắm, tính theo đường chim bay chừng khoảng 500 mét. Nhưng đi
bộ ngoằn ngoèo chắc khoảng hơn nửa tiếng đồng hồ, mà lòng bà như tản mác với những hương hoa
đâu đó. Ngày xưa bà yêu biển lắm, nhưng bây giờ không phải bà đã hết yêu biển, song có lẽ nó không
còn mặn mà, không còn chất khao khát của thanh xuân, của tuổi trẻ trong tim phổi người tài tử này
nữa. Nghĩa là không còn thích chạy, đi nhanh, hoặc đi ngay ra biển khi hồn xuân réo gọi, khi bột biển
trắng xóa dâng trào. Kim Khánh đang bước vào tuổi 68 birthday cho ngày mai. Cái tuổi không già đối
với Kim Khánh nhưng cũng không thể nào gọi là trẻ được nữa. Lần này chị hông chịu đi nhà hàng, và
cũng không cần tổ chức rềnh rang to lớn. Chị có ý định tổ chức như một kỷ niệm nho nhỏ tại nhà trong
gia đình thôi, với những đứa con thôi. Cũng có chút bận rộn với đầu óc, chị lại vô nhà. Rồi Kim Khánh
đưa mắt nhìn ra các khung cửa sổ như có một chút gì còn luyến tiếc bên ngoài. Nhưng không chị sẽ có
những công việc giải trí thích hợp, enjoy ở đây. Trước hết vào nhà lại, chị nhìn chung quanh phòng
khách những tranh ảnh lúc xưa chị đóng phim, và những bức hình mà chính tay chị vẽ cùng thời gian
này. Dù những năm tháng đi qua, ai giữ được tuổi ngày xưa của mình. Chỉ duy một điều tranh ảnh vẫn
thanh xuân, vẫn còn tươi son nổi bật mỉm cười nhìn chị. Một đoạn Kim Khánh không dừng lại nơi đó.
Mà bỏ đi tìm album và mở hòa tấu để nghe một bài hát có lẽ chị ưa thích nhất. Bài Ngăn Cách của Y
Vân. Kim Khánh thích nghe hòa tấu: buồn sau lắng, một chút nào đó tha thiết rạo rực, hơn là vui nhộn
sôi nổi. Phòng ốc bàn ghế ngay ngắn, khăn trải đẹp đẽ, ly tách thích hợp sáng trưng, bánh trái hầu như
chưng không nhiều nhưng gọn, sang, gần như đầy đủ. Cái gì cũng làm chị chợt nhớ về…
Nhưng nhớ nhiều nhất là birthday khi ấy, năm ấy chị mới 18 tuổi. Cách đây 50 năm. Đang đóng bộ
phim xong, thành công mà giới công chúng và giới phê bình nghệ thuật cũng hết lời khen ngợi. Chị
chợt nhớ về birthday cách đây 50 năm về trước ấy. Đúng là năm Kim Khánh vừa tròn 18 tuổi. Cũng là
một birthday lịch sử trong đời, Kim Khánh không thể nào quên. Ngôi nhà cũng bàn ghế, cũng bánh
trái, cũng khăn trải, cũng hoa tươi. Người mẹ đang mở nhạc nghe “ Những Đóm Mắt Hỏa Châu.”
Chính Kim Khánh được thu âm nơi hãng đĩa AlPha. Mà ông chủ tặng cho bà nghe đầu tiên giọng ca con
gái mình. Kim Khánh thì đang ở một tòa báo cô tự đến, muốn tự tay cầm lấy tờ báo mới nhất về điện
ảnh và kịch nghệ. Cô vui vẻ cầm lấy nhìn vài hàng chữ chạy nói về mình trong phim “Cô Gái Và
Thuyền Trưởng.” Cô rất kỵ bị kêu phỏng vấn nhiều, nên Kim Khánh đi liền về nhà, cũng chỉ là chiếc
xích lô bình thường như bao người. Để ngắm cảnh vật chung quanh được chậm hơn, thích đi với một
sự nhẹ nhàng thoải mái. Đến nhà, vô nhà nhìn mẹ như đang đợi mình. Nàng
nhìn mẹ vui vẻ mỉm cười, người mẹ lại nói nhanh như không bỏ qua cơ hội:
- Kim Khánh con năm nay 18 tuổi. Birthday của năm 18. Mẹ biết con không muốn rềnh rang tổ chức.
Con chỉ thích với mẹ như thế này, trang hoàng như thế này cho con trong nhà đúng không?
Kim Khánh gật đầu lắng nghe, nhìn mẹ. Người mẹ hỏi tiếp:
- Vậy cho mẹ hỏi tuổi nào sinh nhật con, trong đời con từ đó đến giờ, con cảm thấy trong lòng con vui
nhất, sung sướng nhất, hãnh diện nhất toại nguyện nhất. Kể từ ngày mẹ tổ chức sinh nhật cho con. Nói
cho mẹ nghe nào.
- Năm nào mẹ cũng làm cho con birthday. Nhưng có lẽ birthday năm nay là con vui nhất, sung sướng
nhất ý nghĩa nhất, con cũng hãnh diện nhất. Vì con đã thành công một bộ phim giá trị. Được báo chí
ngợi khen và người xem ngưỡng mộ thích thú lắm. Lại được các hãng đĩa mời thu tân nhạc. Tuy nhiên
con cũng từ chối nhiều.
- Ừa mẹ đang mở tân nhạc con thâu nghe đó. Ông chủ mới gởi tặng cho mẹ. Bà nói và đi tới tắt băng
cassette, để nói chuyện.
Bà nghe rỉ rả như thế cũng đủ rồi. Quay lại nhìn con gái bà nói tiếp:
- Vậy tuổi vui nhất, ý nghĩa nhất, thì phải làm cái gì nhất hơn nữa. Đó chính là con nên đi lấy chồng Kim
Khánh con…
- Trời ơi. Dạ thưa mẹ con mới 18.
- Lên 18 tuổi không còn nhỏ nhít. Đúng là tuổi con phải lấy chồng đó con. Con đang vui thì vui liên
tiếp. Có thừa đâu. Hợp thời, hợp lúc lắm đó con.
- Sự nghiệp và tiếng ca con đang lên. Kịch nghệ và các nơi cũng cần, họ sẽ mời con nhiều.
- Thì đó… Đó chính là điều mẹ muốn nói. Trong birthday đặc biệt năm con 18 tuổi này, vui nhất này. Con phải có tình yêu và đi lấy chồng.
Kim Khánh cầm nhẹ một bông hồng nơi bàn lên ngửi và thưa:
- Nhưng con chưa có tình yêu.
- Tình yêu sẽ đến. Có người âm thầm yêu con đó.
- Thưa mẹ. Ai vậy mẹ…
- Một thuyền trưởng.
Kim Khánh ngơ ngác nhìn mẹ mình.
Bà nói tiếp:
- Cậu đó đã đến đây gởi thư cho mẹ hai hôm rồi. Mẹ giữ kỹ, giờ thì phải nói. Con lấy coi đi. Có hình cậu
trong đó luôn. Cậu tên là Thành Đạt. Người quê gốc tại Nha Trang.
Kim Khánh cầm thư từ tay mẹ chuyển sang. Nàng cầm đọc. Lá thư đơn giản nhưng lời lẽ xốn xang,
cùng tấm hình ngồi khoanh tay, mái tóc rẽ lệch bên phải nhiều bên trái ít, gương mặt hiền xinh, điển trai
nụ cười đôn hậu, làm Kim Khánh cảm giác vui buồn lẫn lộn. Nàng nhìn thư, nhìn hình ngẫm nghĩ suy tư
rồi nhìn mẹ chưa biết sẽ như thế nào.
Người mẹ bảo tiếp:
- Đời người con gái như cái hoa con. Con không thể phí đi trong tuổi đẹp nhất của mình. Thật ra mẹ
không muốn ép, nhưng mong con chọn lựa trong dịp birthday con vui nhất này. Con vẫn còn vui với nghề
được. Mẹ nghĩ người chồng con không đến nỗi ích kỷ khó khăn đâu. Vì đã yêu con từ đó.
- Mẹ để cho con có thời gian suy nghĩ thêm.
Vừa lúc chàng lái xe đến nhà tặng cho cô một bó hoa, theo dự định có thể cũng gặp được nàng, và mẹ
nàng. Giao lưu vài câu… Nhưng Kim Khánh đã nhìn ra phía trước sân. Nàng liền thưa với mẹ:
- Có lẽ anh ấy đến. Mẹ nói con cám ơn, rồi tiếp giùm con nha. Không có gì đâu. Nhưng con có lẽ
trong trạng thái buồn ngủ quá. Mẹ cứ nói vậy đi há. Chuyện gì sẽ đến tính sau nha.
Nàng nói và lướt thướt trong chiếc áo dài bỏ đi lên gác lầu. Nhà nhỏ, không to cao lắm nhưng cũng
có căn gác lầu. Ở trong một cư xá mang tên Nguyễn Thiện Thuật.
Đúng thế chàng xuống xe, cẩn thận nhẹ nhàng bước vào nhà. Người mẹ đón chàng vui vẻ:
- Kim Khánh nó từ hãng phim hay ở đâu đó nó mới về. Bác có đưa thư nó coi. Xong. Rồi than buồn ngủ
mới lên gác. À nó có lời cám ơn con. Bác cũng thấycó hy vọng lắm. Thành Đạt con nên kiên trì một chút…
- Dạ được rồi không sao bác. Con chỉ đến để tặng cho cô ấy thêm một ít bông hoa đúng dịp trong sinh
nhật cô ấy thôi. Anh nói và để nhẹ bó hoa tươi trên bàn.
Im lặng nhìn căn phòng và những bày biện chàng thuyền trưởng đó vẫn vui vẻ dù có chút thoáng buồn
rồi nói thêm:
- Dạ con xin chúc cho bác, cùng em Kim Khánh trong một birthday thật vui vẻ của cô ấy, có nhiều
ước muốn trong lòng hay.
Mẹ nàng nhìn hoa, nhìn chàng thương mến. Và chàng nói thêm:
- Dạ con xin phép ra về...
Chàng nói câu cuối đó rồi gật đầu lễ phép bước ra sân nhà.
Chàng lên xe nổ máy trong chiếc xe thể thao tuyệt đẹp. Kim Khánh định vô phòng nằm nghỉ, tay vẫn
còn cầm quyển điện ảnh và kịch trường, nhưng rồi tự nhiên cô bước ra đứng trên gác lầu nhìn xuống.
Một lần nữa nghe lòng ngẩn ngơ khó tả, hồi hộp đan xen một chút rối ren.
Rồi Kim Khánh để quyển tạp chí điện ảnh và kịch trường nơi đầu giường chưa coi hết. Nàng bước
xuống thang lầu ngắm hoa. Lòng có chút dào dạt bâng khuâng...
Người mẹ hỏi:
- Sao không ngủ chắc con thấy cậu đó phải không?
- Dạ thấy nhưng mà con không nghĩ gì đâu.
- Còn làm khó dễ người ta chi con. Năm nay 18 tuổi rồi. Thành Đạt coi ra rất xứng với con và yêu con lắm.
Nàng như không thèm để ý câu nói của mẹ. Mà chỉ ngắm hoa rồi bảo:
- Hoa đẹp hương thơm quá.
- Hoa mang hồn ước vọng người ta đó con.
- Mẹ nói chuyện như văn sĩ quá nha. Thôi để con cắm hoa cho đẹp. Rồi con đi ngủ lại thôi.
Kim Khánh nói rồi cắm hoa lên bình. Cô đưa tay nhẹ nhàng trìu mến và có vẻ trân trọng cắm hoa một
cách kỷ thuật và mỹ thuật nữa. Người mẹ nhìn nàng mỉm cười, như nuôi một hy vọng. Còn Kim Khánh
thì lẳng lặng đi lên lầu lần nữa. Nhưng nàng quay lại nói với mẹ trước khi bước lên bục thang:
- Mẹ cũng đi ngủ đi một giấc cho khỏe. Rồi chiều mẹ con mình đi xích lô tìm một quán cơm bình dân
ăn thôi. Con thích vậy nha.
Được rồi. Nhưng mẹ không quen ngủ ban ngày. Để mẹ ngồi đây nghe ca nhạc, hoặc xem ti vi, hoặc làm
một cái gì đó cho vui thôi.
- Vậy nghen, con yêu mẹ.
Nàng nói và bước lên trên lầu người mẹ nhìn theo con gái, tuy có nuôi chút hy vọng nhưng lắc đầu tự
mình khó hiểu lấy. Rồi bà bún nước thêm cho bình hoa bà cũng thấy vui vui.
Kim khánh thì bước lên lầu thay đồ ngủ mong manh rồi lại giường nằm coi quyển điện ảnh và kịch nghệ
mới coi dỡ chừng. Nhưng nàng lại lấy hình Thành Đạt ra ngắm và nhìn thơ chàng dù chỉ có mấy dòng.
Không hiểu sao nàng tìm đến giấc ngủ, cũng chưa chịu ngủ...
Nhưng chính là sau đó họ đám cưới nhau nhanh. Có lẽ nàng cũng thấy rung động nơi chàng và chàng
cũng xứng đáng làm chồng nàng.
Một năm này nàng có nhiều thành công trên nghệ thuật, và cũng năm nàng đã tách cuộc đời thiếu nữ
trinh trắng để cập bến lên xe hoa. Với một người chồng thuyền trưởng uy thế và đẹp trai… Đúng họ
cưới nhau và sau đó chàng đưa nàng đi chơi trên các bờ biển đẹp. Nha Trang, Khánh Hòa, Vũng Tàu. Và
chàng nói:
- Anh rất yêu biển. Biển là nhà. Sóng kia là nhịp đập nơi trái tim anh như vỗ về nơi thân xác. Anh yêu em
vì em vô vai phim ở trên bãi biển nơi một bộ lạc nào đó huyền hoặc xa xưa, nhưng đẹp quá. Cứ làm cho
anh mong muốn cưới được em. Và bây giờ đã thành hiện thực. Em là một tài tử nhưng là vợ của anh.
-Vậy sao? Cho em hỏi anh một chuyện. Nàng vô tư.
- Chuyện gì hã em?
- Anh có biết những gì trong em không? Em sống ở thành phố. Nhưng không yêu thành phố bằng biển
cả anh ơi. Và em cũng yêu rừng, yêu từng bông hoa của rừng… Anh có yêu rừng không.
- Có chứ. Nhưng rừng đứng sau biển.
- Em cũng vậy.
- Vậy mình hạp nhau rồi. Sung sướng quá hả em?
- Dạ.
Nàng nói và nép mình vào vai chàng. Lắng nghe sóng biển vỗ kia. Từng đợt lớn nhỏ xô vào vách đá,
bãi cát, rồi cứ tan ra như một chu kỳ, định luật, tuần hoàn của nó…
Số là cũng nên kể lại bộ phim nàng đóng cho nghệ thuật thứ bảy kia. “Cô Gái Và Thuyền Trưởng.”
Số là có một cô bé được sinh ra ba tuổi rồi, mặt mày đẹp đẽ, sáng sủa, nhưng bị câm nói không được.
Cha mẹ thương yêu nhưng sợ bị liên lụy, xấu hổ. Nên họ tìm cách (nhờ người quản gia) đem bỏ cô
lên một chiếc thuyền để thả trôi đi. Và mong ai đó có tình thương thì lượm nuôi.
Cứ thế không ai lượm, cô trôi giạt mãi ra biển lớn và tấp lên trên một hòn đảo. Cô đành sống và lớn
lên với người dân bộ lạc nơi đó. Phim dẫn dắt. Đến năm 17 tuổi cô đã lớn lên xinh đẹp lạ thường. Dù cô
câm không biết nói, dù ăn mặc thiếu thốn chỉ một mảnh vải quấn quanh thân. (Tấm vải này là tấm vải
ba mẹ cô buộc vào chiếc thuyền ngày đó.) Hòn đảo nơi bộ lạc này sống thì dân cư không đông, rất là ít
ỏi. Chỉ vài chục người chủ yếu là người già và con nít, người trẻ thanh niên và thiếu nữ thì ít lắm. Có lẽ
họ bỏ đi rời hòn đảo hay lý do nào cô cũng không biết rõ. Tuy nhiên những người trong bộ lạc rất hiền
lành và thương yêu nhau, thương cô lắm. Và họ đặt cho nàng một cái tên là Tiểu Thư Câm. Có lẽ họ
thấy cô xinh đẹp và chịu ở chung với họ. (Mặc dầu cô không biết nói, họ không quan tâm, và kể ra cô
hiểu được qua tay chân họ miêu tả, hoặc muốn nói gì.) Ngôn ngữ họ như đàn sếu kêu. Nhưng với người
không câm thôi, còn đối với nàng thì giọng nói trở nên thừa dư tất cả. Tiểu Thư Câm chỉ hiểu qua ánh
mắt và nụ cười họ cho nàng là đủ rồi. Thú vui của nàng là bơi lội trong cuộc đời vô tư lự, câm không
nói được. Loanh quanh với bộ lạc rồi trở về trong căn lều riêng của mình... Thượng đế cho nàng tất cả
nhưng thiếu đi giọng nói ấm áp, thật cũng đáng buồn.
Và câu chuyện rồi một ngày có vị thuyền trưởng chở gạo thóc, lương thực, nhiên liệu cho quân đội.
Lúc đi ngang qua hòn đảo này. Đưa ống nhìn cảnh vật xa xa chân trời, rồi đến hiện gần hơn. Chàng
thấy một cô gái nơi lều cỏ đước, với lối ăn mặc hoang dã nhưng đẹp cực kỳ như trong tranh. Đẹp
không thể chê được một tì vết. Đường cong tuyệt mỹ, môi son mắt sáng, mũi cao cằm chẻ, mặt trái
xoan, lông mày đậm nhưng thanh một chiều ngay thẳng xếp đẹp như lá liễu. Chàng đã mê mẩn ngay
phút đầu tiên qua ống kính nhìn. Và sau đó chàng đã tự tìm đến với một chiếc thuyền khác nhỏ hơn cá
nhân hơn. Rồi tiến lên hòn đảo tìm gặp nàng, để nói tiếng yêu nàng như dự định. Chàng đã bỏ tất cả
chức vị quyền lực để đến đây ở với nàng và yêu nàng. Dù Tiểu Thư Câm không biết nói, nhưng nàng
hiểu và dịu dàng một cách đáng quý. Thế là hai người sống với nhau trên đảo cùng với thổ dân bộ
lạc địa phương đó. Cuộc sống họ hạnh phúc bơi lội quanh vùng trên đảo, và bắt lấy hải sản cá tôm sò
nghêu vừa đủ từng ngày một để đem về nấu nướng làm thức ăn. Hai người không bao giờ bắt dư và bắt
quá nhiều. Họ yêu cuộc sống họ nên họ yêu cuộc sống chúng và chỉ lấy đủ phần ăn để sống cho hạnh
phúc họ thôi. Cứ ngày này sang ngày nọ. Tình yêu họ thêm lãng mạn và hạnh phúc vô bờ. Mặc dù nàng
vẫn chưa nói được. Chỉ có cái gật đầu lắc đầu, hoặc mỉm cười vỗ tay, hoặc là tay nàng ra hiệu mà thôi.
Nhưng rồi một ngày nọ chàng đưa ống nhìn thấy khói lửa tràn lan nơi đất liền xa xa. Chàng biết là có
chiến tranh. Chàng đành tạm biệt nàng, để trở về với vai trò thuyền trưởng, đem lương thực, thuốc men
cho quân lính bằng thuyền bè qua những vùng sông nước… Nàng biết thân phận, không có quyền cản
trở chàng. Buổi tiễn đưa nàng chỉ biết khóc và ôm chàng cứng ngắt trước khi chia tay. Thuyền đã có
sẵn chàng phải ra đi. Nàng đứng đó chỉ vẫy tay và ôm đầu, ôm mặt đau khổ khi con thuyền rời xa hòn
đảo, xa nơi vùng biển nàng đang sống này.
Chàng ra đi. Thuyền trưởng của nàng đã ra đi. Nàng nhớ thương khóc lóc ngày đêm. Nhớ thương khóc
miết đêm ngày. Nàng khóc nhiều khóc mãi, rồi tự nhiên bật lên tiếng nói. Ô kìa tiếng nói đã có. Nàng
vẫn cùng sống chung với dân làng nơi đó, với ngôn ngữ y hệt như họ, thỉnh thoảng có nhảy múa ca hát
lễ hội, cùng với công việc bắt ốc, mò nghêu như họ để kiếm sống từng ngày, từng ngày... Nơi một hòn
đảo yên lặng và thanh bình.
Thời gian trôi qua gần một năm. Nơi đất liền lặng im tiếng súng, chiến tranh kết thúc. Chàng trai
thuyền trưởng yên lòng xuôi thuyền trở về bên hòn đảo ngày xưa tìm nàng… Nhưng hỡi ơi nàng Thiếu
Nữ Câm đã biết nói nhưng tính cách khác xa, dửng dưng với chàng, tệ hơn nữa là không còn dịu dàng
như thuở xưa. không thích lời lẽ mềm mỏng, không thích bơi lội với chàng. Thậm chí nàng không ăn
cơm chung, Nàng nói năng lỗ mãng như một kẻ xa lạ kỳ quặc. Ngày này đến tháng nọ buồn quá chàng
lại bỏ đi trên chiếc thuyền nhỏ lênh đênh sóng nước khắp nơi chu du. Nhưng rồi cuối cùng cũng mang
nhiều thất vọng. Chàng phải quay về ngồi nơi ghềnh đá để cầu nguyện, để được rũ chết nơi đây, nơi mà
hai đứa ngày xưa yêu nhau: từng bơi lội những lúc chiều về, những sáng tinh mơ. Hay buổi trưa hè
nắng gắt, hoặc thu chuyển mình bàng bạc với những hơi sương…
Một hôm cô gái Câm giờ nói được đó, lại ra ghềnh đá, chắc lời nguyện cầu của chàng đó chăng…?
Nàng tự nhận biết xác chàng người yêu, và là chồng của mình đã chết: Không hiểu sao thượng đế sắp
xếp quái ác, khi nàng nhận ra chàng thì chàng không còn sống nữa. Thương nhớ vô vàn nàng ôm chàng
khóc và khóc nức nẻ dưới đất trời. Nàng lại chắp tay nguyện cầu mong ước: nếu linh hồn chàng còn
thương tưởng, nghĩ nhớ đến nàng hãy mở đôi mắt để thấy nàng khóc, đau thương tan nát, và cho nàng
được chết chung cùng chàng để dứt khỏi nỗi buồn đau.
Thế là linh hiển chàng mở mắt. Ôi những giọt nước mắt của nàng nhỏ vào đôi mắt chàng và những giọt
nước mắt họ đã chung trộn với nhau hòa cùng nước biển. Nàng đã ôm chàng mà lịm dần thân xác không
tan theo hư vô mà. Cả hai chìm dần tạo thành một tảng, khối san hô đẹp, tuyệt, hình thù hai người y
chang, rồi được nhô lên bên cạnh mỏn đá ngày xưa hai người từng ngồi ở đó. Như một huyền thoại của
một mối tình.
Nước mắt của cô gái và chàng trai thuyền trưởng cùng với nước biển đã hình thành lên những chuỗi
ngọc trai quý giá, những viên hồng ngọc óng ánh, và không biết từ đâu muôn ngàn vàng bạc châu báu
lại xuất hiện có từ đó, nơi hòn đảo vùng biển này nhiều đến vô kể, mà giúp đỡ dân làng…
Dân làng nơi đây rồi buôn bán giao thương, với các đảo khác, và đất liền. Dân đất liền đổ ra hòn đảo này
mua bán làm ăn. Và họ tạo ra một vị trí hòn đảo giàu có thịnh vượng nhất.
Sau này người dân thương nhớ đến chuyện tình yêu của cô gái và một thuyền trưởng đẹp nhưng buồn.
Tuy nhiên họ đã trở thành bất tử. Và chính sau này người dân cùng với các thương gia giàu có đã hiệp
lực tạc tượng về đôi tình nhân này như một truyền thuyết để chiêm ngưỡng, biết ơn. Đồng thời để lưu
lại nơi xưa đảo này có một huyền thoại, có một chuyện tình…
Kim Khánh đang nhớ về những kỷ niệm xa xưa, những thước phim nàng đóng. Nhớ những buổi tâm
tình với mẹ. Đặc biệt trong một sinh nhật năm 18 tuổi Kim khánh đã thay đổi nhiều của hướng đi.
Kim Khánh là người rất yêu mẹ. Kim Khánh bước vào nghệ thuật cũng do nơi mẹ, và bước ra khỏi
nghệ thuật để lập gia đình cũng do nơi mẹ. Mẹ bảo phụng sự gia đình là chuyện chính hơn, cần thiết
hơn. Người tài tử này vẫn thấy mẹ đúng và vâng lời mẹ. Thật sự Kim Khánh chưa giã từ nghệ thuật
nhưng Kim Khánh đã có chồng lên xe hoa bất ngờ. Nàng đã ưng lấy một đức lang quân. Một thuyền
trưởng ngoài đời hết sức đẹp trai dịu ngọt và galant. Kim Khánh thật sự cảm giác may mắn, hài lòng…
Đó là họ có nhau trong đời của mùa xuân 1974. Thế rồi chỉ một năm sau. Qua tháng tư mùa xuân
1975. Chính thể cộng sản miền Bắc chiếm lấy Miền Nam hoàn toàn. Người dân Miền Nam chống cộng
và không ưa cộng sản họ bỏ nước ra đi nhiều cách, đủ kiểu: hàng không, hàng biển, tức là trên trời cả
dưới nước, và cả xuyên rừng núi, vượt chông gai, lặn lội trốn qua biên giới, tìm vào các nước thứ ba
để mong được sẽ đến Hoa Kỳ tị nạn vì chính trị, đời sống v.v... Chàng và nàng tức là Thành Đạt, Kim
Khánh đã ra đi bằng con thuyền của anh cùng bao người thân quen nhất.
Họ đến được Hoa kỳ, đất khách quê người. Thắm thoát thời gian… Nàng sinh cho thuyền trưởng của
nàng: Ba gái một cậu trai. Cậu trai lại kề cô gái út. Cậu được xen vô sau khi hai cô gái lớn. Và cuối
cùng là thêm cô gái út. Cô gái út là giống gương mặt vóc dáng Kim Khánh nhất, nên cô được mẹ
Kim Khánh cưng nhiều nhất. Còn cuộc đời thuyền trưởng nơi Hoa Kỳ ly hương này đã chuyển đổi.
Chàng đã chuyển đi học và làm một kỷ sư điện toán nơi công sở. Nàng ở nhà nuôi dạy con cái. Gia đình
họ rộn ràng tiếng cười và hạnh phúc. Nhưng rồi hạnh phúc nào chẳng dừng chân, để họ được ở đó
lâu hơn, để mà rồi mãi mãi. Và rồi cách đây 15 năm chàng đã ra đi vì một tai nạn mà chính sau đó chàng
không muốn sống nữa. Con cái đã lớn. Tuy nhiên đã để lại cho Kim Khánh một khoảng trống vắng với
nỗi buồn mênh mông… Có phải trời không cho ai hạnh phúc mãi. Và trời cũng không cho ai khổ đau
nhiều… Bao nhiêu hạnh phúc tràn trề, Kim Khánh rồi phải nhận lấy nỗi buồn mất chồng ập tới… Một
tài tử phải chịu cô đơn cay đắng bên 4 người con, thiếu bóng người chồng thân yêu. Nhưng rồi cái gì
cũng trôi qua, niềm đau cũng vơi đi theo ngày tháng. Thắm thoát nay đã bước vào ngưỡng cửa tuổi
68. Trên mấy mươi năm lấy chồng, bao vật đổi sao dời. Vui nhiều cũng không phải không có. Nhưng
cũng bao lần nước mắt phải rưng rưng. Kim Khánh đang ngồi nghĩ cuộc đời không thể là những chuỗi
ngày êm ả mãi. Vui sướng hạnh phúc, khổ đau và tan thương luôn luôn rượt bắt con người. Người tài
tử đó đang nghĩ về sinh nhật cho ngày mai, và đang chờ những cô gái sẽ về thăm mẹ. Chỉ duy cậu trai là
đang đi lính Mỹ ở Bahrain cũng là một đại úy thuyền trưởng hải quân. Có lẽ lần này nó không về
được. Vì bà chưa nghe cậu ấy nói gì. Đang có nhiều tâm trạng hồi tưởng như vậy, thì cô gái đầu đã lái xe
về. Đậu xe và vô thăm mẹ.
Hai mẹ con giữa Kim Khánh và Kim Ngân những tháng ngày gần đây thường không hạp nhau.
Thường hay tranh chấp những việc không đâu của thời sự, của chính trị, của xã hội Mỹ. Bước vô nhà
cô vẫn mỉm cười chào mẹ bằng một nụ cười trong sáng rồi nói:
- Thưa mẹ, mẹ có khỏe không hôm nay? Chúng ta phải đợi thêm hai em Trúc, Linh nữa. Và mình nên
ra ngoài ăn đó mẹ. Nàng nói và nhìn bàn ghế được trang trải, nhìn hoa tươi, được cắm nơi tay em gái út
làm lấy, trình bày rất là đẹp.
- Mẹ sức khỏe bình thường. Hôm nay OK thôi. Đợi thì đợi, song mẹ không thấy gì vui khi ra ngoài đâu.
Ra ngoài làm chi cái bọn Ice nó đang bố ráp khắp nơi nơi. Người mẹ Kim Khánh nhìn con gái như dò
ý.
- Thưa mẹ họ chỉ thi hành theo sắc lệnh của chính quyền liên bang. Họ chỉ truy đuổi, khám xét những
người nhập cư ồ ạt trái phép. Hình thức những kẻ phạm vi của illegal thôi.
Mình rồi cũng đến lượt, rồi sẽ bắt đầu đó.
- Mom đừng nghĩ vậy là sai đi. Mình khác họ khác, mình là trường hợp: hợp pháp, legal mà.
- Con im có được không? Có khác gì đâu? Nếu tổng thống hồi đó khó vậy. Ba má có được vô nước Mỹ
không? Rồi con có được sinh ra trên một đất nước tử tế này đến hôm nay không?
- Tại sao mom đặt ra nhiều câu hỏi ngoài luồng như thế. Không thấy mình suy nghĩ sai quá nhiều sao.
- Con vẫn cái giọng lên lớp má hoài đó sao?
- Con muốn giải thích để má hiểu. Mà bao lần má cố tình không hiểu. Hay là má bị dẫn dắt, đánh tráo
khái niệm. Để má hiểu chệch ra như vậy mà tội nghiệp cho chính quyền.
- Hiểu cái gì một chính sách thực thi man rợ, tham lam và tàn bạo. Con là một người con của di dân.
Lại đi ủng hộ những kẻ bạo ác, hung hãn.
- Trời ơi buồn cho má, và khổ cho má tôi ghê. Má lại đi xa với những hiểu biết má cần, má cần phải có
tri thức chính đáng để nhận diện để phân biệt. Bao nhiêu lần con đã nói legal và illegal phải khác nhau.
- Khác nhau chỗ nào, nhìn cho cùng cũng vậy thôi hà?
- Làm sao mà như vậy được chứ? Thật sự mà nói lúc đó má đi vượt biên. Má cũng đâu được vào nước
Hoa Kỳ liền. Má cũng bị ách chế thời gian xét lại.
Rồi họ mới cho vào nước Mỹ. Cũng có sự ngăn ngừa nào đó. Mà má được thông qua hợp tình hợp
lý. Má làm như cố tình không thấy thôi, không thừa nhận điều con cắt nghĩa thôi. Bây giờ cũng chánh
sách đó. Nhưng thêm nghiêm ngặt, và mở rộng truy quét hơn. Vậy thôi có gì đâu.
- Mẹ cho con ăn học nên người, rồi cũng làm được một ca sĩ sáng giá trên Paris by night, để rồi chống
lại tư tưởng mẹ, bài trừ tư tưởng mẹ sao?
- Không có vậy? Nhưng mà con muốn giải thích thôi. Con tỉ dụ đơn giản. Luật pháp của Mỹ tiểu
bang hoặc liên bang cũng tùy theo thời điểm, mà chính quyền họ có thể thay đổi cho phù hợp tình
hình hơn. Con tỉ dụ một việc nhỏ để đi đến việc lớn. Tỉ dụ như là mấy năm trước có thể má để chậu bông
chỗ này, nó đẹp, nhìn được. Nhưng hôm nay để nhìn, không còn được đẹp môi trường thì phải dời
đi, thay đổi thôi. Luật thì tương đối không thể coi là vĩnh cửu. Dựa trên những đòi hỏi và quyền lợi cơ
bản. Hiện hành… Thế thôi…
- Con lý luận theo một chuỗi tham lợi tàn ác và không tình người nào cả.
Vừa lúc đứa con gái thứ hai về:
- Chào Mom chào chị Ngân.
Thấy cảnh tình hơi căng nơi má. Cô gái thứ hai tên là Trúc hỏi liền:
- Chuyện gì xảy ra vậy. Hình như má không được vui.
- Thì má đang phản đối Ice. Và căm ghét họ. Chị thì muốn giải thích cho má rõ hơn nhưng mà. Ngân lắc
đầu trững lại.
Trúc liền bảo:
- Mom không nên nghĩ như vậy? Tổng thống đang có những quốc sách tốt. Họ đang làm tốt công việc
để dẹp những kẻ xấu, phá đất nước, gieo rắc thảm họa. cần ngăn chặn những kẻ đến Mỹ bất hợp pháp.
Họ là những kẻ illegal. Hút xách, trộm cướp, gây rối trật tự, Làm xã hội Mỹ mất đẹp. Cần trừng trị tống đuổi.
Im một chút Trúc nói tiếp:
- Mom đừng có suy nghĩ cảm tính của một tài tử thanh bạch, và tình yêu muôn loài. Trong khi chính
trị là chiến lược là bên trong lâu dài của quốc sách.
Kim Khánh phản ứng lại:
- Quốc sách cái gì? Một quốc sách man rợ, tồi bại. Chà đạp lên nhân quyền sự sống, con người đòi hỏi.
- Mom sai nữa rồi. Không có gì chà đạp nhân quyền. Họ là dân di cư bất hợp pháp. Cần dọn dẹp
những kẻ illegal phá nước Mỹ.
- Thôi im hết đi. Các cô giỏi mà. Thích đối lý với tôi. Phản lại cha mẹ, phản lại tiếng nói tôi. Hãy để
tôi yên. Đi hết đi, đi hết đi. Làm ơn, làm ơn ra khỏi nhà, biến nhanh giùm…
Kim Khánh nói và giận hai cô con gái, xách hoa ném liệng, xô đẩy bàn ghế ầm ầm, lệch chỗ, xê dịch,
không còn ngay ngắn. Rượu chai, ly để cũng bị ném vài cái tung tóe đổ nát…
Hai cô gái đứng đó hết hồn nhìn mẹ giận. Thái độ mẹ khiến họ muốn ra về ngay tức khắc, mỗi người
mỗi nẻo, để khỏi chứng kiến cảnh này. Nhưng họ nhìn nhau chưa dám bỏ đi liền.
Vừa lúc cô gái thứ ba là Linh cũng vừa về. Cũng đậu xe, rồi vào nhà thấy như vậy cô ngạc nhiên, giật
mình hỏi:
- Chuyện gì xảy ra vậy? Chuyện gì hai chị làm mẹ giận lớn. Trời ơi… Linh vừa nói và gọn gàng lại
cảnh tượng, đưa tay sắp xếp lại cho dễ nhìn hơn.
Trúc giải thích:
- Hai chị nói về Ice cho má hiểu. Má không chịu hiểu và không chấp nhận công việc họ là tốt.
Linh dọn dẹp nhìn được hơn rồi. Linh quay lại nói với hai chị.
- Hai chị cách suy nghĩ đó cũng chưa chắc là đúng. Xã hội Mỹ đang phân hóa và có những cách nhìn
riêng, khác nhau.
Người chị đầu Ngân nói:
- Chính mày làm cho má đi sâu vào những cái nghĩ cái nhìn sai lầm. Mày toa rập, ủng hộ. Làm nghiêng
ngửa chao đảo, cách nhìn của má…
- Không phải là em có trách nhiệm trong cách nhìn của má? Nhưng em cũng có quyền nghĩ khác mấy chị.
- Thì đó mày có những cách nghĩ vô lý bệnh hoạn, thổ tả mà.
- Mong hai chị đến đây đừng tranh chấp việc đó nữa.
Hai chị không nên tranh chấp hoặc giải thích gì với má có được không? Hai chị không nên cho một ý
kiến, theo kiến thức hai chị? Kiến thức là kiến thức gì? Cái kiến thức hai chị có yêu mẹ mình? Thì dừng
lại các quan niệm riêng tư cho mẹ vui trong ngày birthday mẹ đi.
Ngân thanh minh:
- Bỗng dưng má muốn gây sự chị vậy mà. Rồi Linh cũng bị má tấn công luôn. Má không muốn nghe mà
chỉ nóng nảy trút cơn cho hả giận.
Im chút chần chừ. Ngân nói tiếp:
- Hai chị có nói gì nhiều đâu. Chỉ có một sự giải thích nhỏ thôi hà.
- Biết má thế mà hai chị cũng đi giải thích là giải thích cái gì? Đúng sai với mom làm gì ở đây cho
mất vui khi birthday của mom sắp tới.
Kim Khánh chỉ nghe vài câu cô gái út nói nửa được nửa mất. Vì đầu óc bà đang rối tung. Bà bỏ vô
phòng riêng nằm nghỉ.
Ngoài phòng khách. Ngân nói:
- Như vậy là má không chịu đi ăn ở ngoài rồi đó.
- Chắc vậy. Trúc nhìn nhận.
Linh cũng nói:
- Ăn gì mà ăn giận hai chị, lên tension. Có lúc đứt mạch máu chết đi cũng có.
Ngân hỏi:
- Vậy giờ tính sao?
Linh nhìn hai chị trả lời:
- Hai chị về đi. Em ở lại về sau. Coi như hai chị đi sai một chút. Chứ không lý sự thì em đến. Em có thể
mời má sẽ đi, chịu đi.
Trúc nói:
- Thôi mình về, để Linh ở lại với má, chăm sóc má vậy thôi. Còn cách nào nữa chị Ngân.
- Tình trạng vầy hoài buồn quá. Ngân nói nhìn Trúc.
- Thì do hai chị thiếu suy nghĩ thôi. Cũng muốn hơn với má mà. Hai chị nên nhớ má mình là một tài tử.
Tâm hồn cảm tính hơn là lý trí. Cả hai đâu muốn nhường cho má đâu.
- Thôi được rồi. Đủ rồi. Mày lý luận tao thêm mệt. Vậy ở lại nha. Chị Ngân về.
Trúc nói:
- Coi như hôm nay thất bại, một chuyện buồn. Xảy ra trước ngày sinh nhật mom. Hai chị không biết
làm gì hơn. Cứ để mom hết giận đi. Em ở lại thôi nghen.
Ngân như tán thành câu nói của em gái kế mình. Rồi hai người huơ tay nhè nhẹ chào tạm biệt Linh.
Họ ra xe để lái đi.
Linh gật đầu tiễn hai chị, đứng nhìn họ nơi cửa Rồi Linh quay vô nhà. Vào phòng mẹ.
Người mẹ nói liền:
- Ước gì mẹ ngủ quên đi, ngủ luôn đi. Để không thấy những cảnh đau lòng cho gia đình phe phái,
chia rẽ. Hết tình thương… Cho xã hội Mỹ ngày nay.
- Không má, má còn có con, có anh Huy. Anh Huy sẽ về để nói kỹ chuyện này với hai chị.
- Má chưa uống đâu nhưng có ngày má sẽ dùng liều thuốc quá liều đó con à. Để quên hết mọi chuyện
chung quanh.
- Không nên. Mãi mãi không nên như vậy má ơi. Con sẽ điện cho anh Huy phải về thăm má gấp.
***
Chỉ một cú điện thoại gấp sau đó. Huy con trai của Kim Khánh hiện là đại úy, là thuyền trưởng đang ở
Bahrain. Được tin em gái út Linh báo tin về mẹ. Anh không muốn một birthday của mẹ, lại có tình
trạng xấu nhất xảy ra như thế. Anh liền bỏ công việc, bỏ đất nước anh đang làm nhiệm vụ. Anh bay
về ngay sáng sớm ngày tiếp theo. Anh là người con trai rất thương mẹ và sợ mẹ tổn thương.
Sau khi anh về, thì hai chị và út Linh được triệu tập mời đến ngay. Anh không thể để trễ nãi việc này.
Một sự việc quan trọng với má và gia đình.
Hôm ấy Huy đứng nói. Mom ngồi ghế bành êm, hai chị ngồi gần đó nơi gần chiếc bàn, cùng út Linh
đứng lắng nghe:
- Chắc hai chị và út Linh đã biết vì sao em về gấp, birthday này của mẹ em định không về. Nhưng mà
rồi em phải về để nói…
Im một giây cậu nói tiếp:
- Em xin thưa với hai chị. Ở đây không phải là chuyện, không phải nhất thiết điều má đúng sai. Em
yêu cầu hai chị và một út Linh nữa thương mẹ. Thì đừng để bất cứ chuyện gì làm cho mẹ buồn. Chuyện
xã hội chuyện chính trị, chuyện thời thế, chính nghĩa gì? Nó cũng không phải là chuyện của gia
đình chúng ta.
Cả ba người con gái, (hai chị và một em) rất là lắng nghe. Ngân lại muốn giải thích, phản ứng tý:
- Nhưng Huy biết má rất là kỳ, gàn lắm. Và cứ cho là quan điểm mình đúng nhất.
Huy cãi lại:
- Chị không được phép nói má như vậy. Trước khi ba mất ba có nói, lúc đó em còn nhỏ hơn hai chị. Ba
nói gì? Ba nói gì hai chị và Linh nhớ không?
Cả ba người và Huy đang điều nhớ lại viễn cảnh đó. Ông Đạt nói rằng:
- Mẹ con là một tài tử lòng cao thượng, tâm hồn đẹp ngoài vòng của lý trí. Thương mẹ tụi con không nên
cãi vã làm buồn lòng mẹ. Không nên tìm cách giải thích, hoặc cố tranh chấp chuyện không nên vì đâu?
Không được làm tổn thương lòng mẹ dù bất cứ điều gì. Đừng để cho mẹ thất vọng, hao trí vì sức khỏe
các con nhé.
Nghe phần diễn giải của con trai đến đây, không hiểu sao Kim khánh quá xúc động. Bà đứng dậy bỏ
vào phòng mình nhìn hình vợ chồng mới cưới chụp chung. Và liên tưởng cảnh đau lòng: Khi ông bị một
tai nạn accident ông bị cưa chân bên trái, Họ đang băng bột, bà đưa ba con gái cùng một cậu trai vào
thăm ông, đang nằm trong phòng điều dưỡng. Bà nhớ những câu nói của ông:
- Anh muốn sẽ được chết. Khỏi bận bịu cho em. Khỏi khổ cho em Kim Khánh à. Vì thân anh tàn
phế. Một thuyền trưởng ngày nào đã mất hết. Và làm khổ em. Em cứ để anh chết đi cho em nhẹ gánh.
Chính anh cũng đã không thích sống với một cuộc đời tàn tạ như vậy.
- Anh không được nói như thế. Dù anh thế nào em vẫn yêu và nguyện nuôi anh cả đời chứ…
- Không anh đã tính rồi. Em cứ ở lại nuôi con dạy dỗ cho con. Các con nên người là anh mừng hơn thôi.
Câu chuyện xin kể lại; Ông bị accident. Tai nạn xe cộ phải gãy chân. Phải cưa đi một chân. Nhưng ông
thuyền trưởng Thành Đạt không còn thấy vui. Ông tủi thân trước cuộc đời xuống cấp. Sau đó ông uống
thuốc quá liều để ngủ say, ngủ luôn một giấc ngủ ngàn thu. Ông bỏ lại trần gian người vợ từng là tài
tử Kim Khánh, và bốn người con dễ thương đang lớn. Vì ông không muốn gánh nặng cho một người
vợ tài tử xinh đẹp, phải vất vả vì mình, hầu hạ vì mình, khổ đời vì mình. Cái sự can đảm hy sinh ra đi
của ông, ít có nơi trần gian.
Kim Khánh ngậm ngùi nhớ lại quá khứ đau buồn đó. Rồi cũng bước ra ngồi vào chiếc ghế để nghe
Huy nói tiếp. Cần nói thêm lúc Kim Khánh bỏ đi vào phòng riêng. Thì các con của bà cũng đang hình
dung hệt như bà .Với cảnh tượng ba nói chuyện với mẹ lúc đó.
Bà bước ra cắt đứt những suy nghĩ trong viễn cảnh.
Và các con lại nhìn bà.
Huy nhìn má tiếp tục nói:
- Má hãy vui lên đi. Con muốn gia đình chúng ta đi du thuyền trong dịp birthday này của má, để má
quên hết những buồn đau chung quanh. Và để má nhớ lại những ngày tháng gia đình ta dù nghèo, ba
vẫn dẫn đưa đi du thuyền năm xưa đó má.
- Không con Huy ạ. Nếu con có lòng mẹ cám ơn. Nhưng mẹ không muốn. Con nói làm lòng mẹ
chạnh lòng quá. Thêm nhớ lại những hạnh phúc xa xưa…
- Thôi được rồi để cho mẹ có thời gian suy nghĩ lại. Hai chị và em Linh nghĩ sao?
- Được rồi. Để má suy nghĩ rồi đi thôi. Ngân nói.
Trúc và Linh đưa ánh mắt nhìn mẹ mà làm thinh.
Có gì Linh đã nói hết và chị Ngân đã nói hết rồi.
Huy liền bảo:
- Cám ơn hai chị và út Linh đã lắng nghe. Huy tâm tình. Mong còn kiếm lại hạnh phúc nơi gia đình
chúng ta thôi. Bây giờ hai chị và út Linh có thể ra về. Huy ở lại với má và chờ ý má, và Huy sẽ thông
báo.
Kim Khánh vẫn chưa chịu đi. Vẫn không muốn một cuộc đi chơi biển thiếu vắng chồng, và những đứa
con còn quá ư nghịch tử. Nó hứa vậy thôi, nhưng ngựa quen đường cũ, rồi thế nào nó cũng ra miệng
bảo vệ cho chính quyền đương thời, thực thi rất đúng tốt. Mà bà thì sai lầm, hư quấy, cần sửa đổi
duy tư… Cần quay chiều như nó. Cái tham vọng của Ngân và Trúc đối với bà, bà biết.
Kim Khánh suy nghĩ và cảm thấy không vui. Nhưng sau đó một đêm bà uống thuốc cho an thần, để ngủ
ngon (thỉnh thoảng bà cũng hay dùng thuốc an thần để ngủ.) Thì bỗng có một giấc mơ đẹp hiện về lúc
đó. Lúc đó bà chỉ 36 tuổi. Ngân 16, Trúc 14, Huy 12. Linh 10. Cả gia đình họ đi du thuyền cũng vào
ngày birthday bà. Sóng nước mênh mông, con cái nhìn nhau chan chứa, nói cười tíu tít chung quanh bà
và chồng… Bà đang ngủ mê, rồi lại gọi:
-Anh Đạt, Anh Đạt. Em hạnh phúc bên anh một đời.cùng con chúng ta. Em ước muốn cuộc sống chúng
ta mãi mãi an vui hạnh phúc anh ơi…
Anh có nghe em nói không? Anh có nghe em nói không? Tại sao anh không trả lời anh yêu…
Bà giật mình tỉnh giấc thì ra một giấc mơ của mình…
Bà biết ông ra đi lâu rồi không còn ở lại bên bà.
Kim Khánh thêm nhớ, đi tìm bức hình hai người chụp lúc mới lấy nhau. Bà ôm vào lòng để ngủ thêm.
Rồi cảnh tượng đi du thuyền trong birthday ấy lại lập lại, diễn tiến… Và tiếng gọi bà cũng lập lại nữa.
Bà giật mình không thấy gì cả. Kim Khánh lại đi tìm album với những tháng ngày họ hạnh phúc bên
nhau cùng con cái. Nhất là những bức hình ghi lại lúc cả nhà đi du thuyền vào những dịp…
Sau này bà kể lại câu chuyện cho một người em kết nghĩa nghe. Hai chị em tinh thần nhưng họ rất yêu
thương nhau chia sẻ cho nhau những ngọt bùi cay đắng. Rồi câu chuyện này được người em kết nghĩa
tóm tắt viết lại ý chính và bố cục. Thêm bớt, có hư cấu hoặc không hư cấu như chúng ta đang đọc... Xin
cám ơn quý vị đã lắng nghe một câu chuyện tình
yêu… và gia đình con cái họ…
Thuận bằng tuổi tôi, học cùng tới cấp 3 nhưng chỉ chơi thân với nhau mấy năm cấp I. Về vai vế họ hàng thì tôi gọi Thuận là cậu xưng cháu, họ cũng xa xa rồi, cỡ nếu Thuận là con gái có yêu đương với tôi thì trong họ cũng không ai phản đối. Nhà tôi ở xóm Chùa, đầu làng, còn nhà Thuận ở giữa làng, đi bộ đến nhà nhau chắc chỉ hết mươi, mười lăm phút. Ngày học cấp I, Thuận hay rủ tôi vào nhà chơi, cứ gọi tôi là anh xưng em, tình cảm lắm, mà Thuận toàn khen tôi đẹp trai học giỏi rồi đợi lúc tôi phổng mũi vì được khen là Thuận nhẹ nhàng dúi vào tay tôi con dao để băm bèo, cái chổi để quét nhà, quét bếp... Thuận khôn lắm, chả ngây ngô như tôi, như thằng Chủ, thằng Oanh,... Rõ ràng Thuận cao hơn tôi, trắng hơn tôi, đẹp trai hơn tôi, nếu chấm điểm, Thuận xứng đáng điểm 10, còn tôi chiếu cố thì may ra được 5 điểm, vậy mà Thuận luôn nắm tay tôi, chớp chớp mắt nhìn tôi rồi thủ thỉ: - Xuân ơi, ước gì em đẹp trai như anh, sau này em sẽ làm cho khối đứa con gái phải có con với em...
Chả bao giờ Thuận gọi tôi là Xuyến, toàn gọi tên khai sinh của tôi là Xuân vì Thuận biết tôi không thích cái tên Xuyến, cái tên dễ nhầm sang tên con gái.
Thuận hay dỗi và giận dai lắm. Một bận, hồi học cấp 2, Oanh lỡ tay đánh vỡ con lợn đất của Thuận mà Thuận ê a khóc hơn hai tuần, rồi cạch mặt không nói chuyện với Oanh đến mấy tháng. Gặp nhau, Thuận cứ bĩu môi chê Oanh là thằng hậu đậu, chả có ai thèm chơi. Bận khác, Chủ buột miệng kể Thuận đêm ngủ vẫn còn tè dầm thế là 4 tháng liền mặt cứ xị ra khi gặp Chủ, giảng hòa thế nào Thuận cũng không chịu, cứ một mực: - Sao anh Xuân toàn bênh thằng Chủ thế? Anh Xuân thử đặt là Thuận liệu có chịu được không? Chỉ là tè dầm thôi chứ to tát gì đâu mà cứ đem bêu nhau...
Bận nữa, cái Kim bị mụn mọc ở má, hễ gặp là Thuận đưa tay xoa xoa má Kim lâu lắm, giọng cứ xót xa như mụn đấy mọc trên má Thuận. Chủ bảo Thuận chỉ lợi dụng cơ hội để "dê" Kim chứ thương xót gì. Thuận mắng Chủ là xấu tính, bệnh hoạn, suy đồi về tư tưởng rồi cạch mặt Chủ đến nửa năm.
Giận dai, dỗi lâu là thế nhưng không phải chuyện gì Thuận cũng giận lâu dỗi dai, còn tùy chuyện, tùy người mà Thuận linh hoạt điều chỉnh. Có bận Thuận giận tím mặt vì Chủ cứ ông ổng trước mặt Kim rằng tối hôm kia Thuận tè dầm, tối hôm qua Thuận sợ ma ị ra quần... Vậy mà sớm hôm sau Thuận đến nhà ngọt ngào bảo Chủ nói với mọi người vì ghét Thuận mới bịa chuyện như thế,... Thuận hứa sẽ dạy Chủ cách cầm tay con gái thoải mái mà không mang bầu, sẽ giới thiệu Chủ vào hội "Hạt Giống Đỏ", sau này tha hồ Chủ thăng tiến... Sau đó Thuận đến tìm tôi thủ thỉ: - "Anh Xuân còn tin Chủ nữa không? Còn bĩu môi chê Thuận nữa không? Thằng Chủ đã thừa nhận vì ghen ghét em mà vu oan cho em đấy!". Rồi xúi tôi nói với mọi người vì đố kỵ, ghen ghét Thuận mà Chủ dựng chuyện như thế... Thuận cũng hứa dạy tôi cách cầm tay con gái thoải mái mà không sợ mang bầu, sẽ giới thiệu tôi vào hội "Hạt Giống Đỏ" để sau này rộng đường thăng tiến, tôi cười lắc đầu thì Thuận bĩu môi: - “Ngu! Người ta tốt mới tạo cho cơ hội....”. Thế là giận tôi đến 6, 7 tháng. Mỗi lần gặp, nhìn tôi Thuận lại bĩu môi rõ dài: - "Ngu lắm cơ!". Rồi nguây nguẩy cái mông, chừng như cố ý cho biết Thuận còn giận tôi lắm!
* *
*
Tốt nghiệp cấp 3, giữa lúc tôi, thằng Chủ, thằng Oanh còn chưa biết nên đi làm thuê xứ người hay ở lại quê bám mấy sào ruộng thì Thuận "vụt" biến mất khỏi làng. Oanh nói, nhờ có gia thế nên Thuận lên tỉnh đầu quân vào một chỗ nào đó oai lắm, sộp lắm. Còn Chủ thì khăng khăng khẳng định nhờ tài nịnh gái và cái mã trắng trẻo xinh trai nên Thuận lọt vào mắt xanh con gái nhà quan lớn, đường quan lộ tha hồ mà thăng tiến...
Đám cưới Thuận to nhất huyện. Xe hơi đậu san sát từ nhà Thuận ra đến tận chùa làng. Thuận diện comple, tóc xịt keo, đứng cạnh cô vợ mặt lạnh tanh, đài các, đúng kiểu người phố thị. Thấy chúng tôi, Thuận nheo nheo mắt vẻ đắc ý lắm. Ghé sát tai tôi, mắt Thuận lại liếc xéo sang thằng Chủ, thằng Oanh, nói nhỏ: - “Anh Xuân thấy em oách không?”, rồi hất hàm về phía cô dâu, giọng đắc chí:
- Các cậu thấy vợ tớ thế nào? Gái thành thị, con nhà gia thế đấy! Phải có cái tầm, cái "gu" như tớ thì mới "xơi" được ca khó thế này, chứ ngữ như các cậu thì...
Thuận cười khẩy một cái rồi nắm bàn tay đeo đầy nhẫn kim cương của vợ dơ lên như thể ban phát đặc ân được chiêm ngưỡng sự giàu sang cho đám bạn quê nghèo.
Chưa đầy hai năm sau, Thuận về làng với tư cách "cán bộ lớn trên tỉnh". Thuận bước xuống từ chiếc xe biển xanh, comple phẳng phiu, tay xách cặp da sáng loáng. Cả làng đổ ra xem. Thuận đi giữa đám đông, bắt tay các cụ già trịnh trọng lắm. Vừa nhác thấy tôi và Chủ đứng lóng ngóng bên gốc đa chùa làng, Thuận lạch bạch chạy lại. Nắm chặt tay tôi, Thuận chớp chớp mắt, giọng vút lên:
- Eo ơi! Nhìn anh Xuân dạo này phong trần khổ hạnh thế. Ước gì em được tự tại như anh, chứ làm anh cán bộ như em khổ lắm, suốt ngày phải đi họp, suốt ngày phải ăn sơn hào hải vị, phát ngán lên được!
Thằng Chủ định lại gần chào Thuận câu xã giao thì Thuận quay sang nhíu mày nhìn Chủ, bĩu môi:
- Ồ thằng Chủ! Tao nghe nói mày mới lấy vợ xã dưới xinh lắm. Thế đêm ngủ mày còn... tè dầm như hồi xưa không?
Cả đám cười ồ lên, thằng Chủ đỏ mặt, lí nhí: - Cái thằng này... cán bộ gì mà ăn nói chả ra làm sao...
Thuận vẫn thế, vẫn cái kiểu dìm hàng bạn bè để đẩy sự sung sướng của mình một cách hả hê.
Thuận lôi trong xe ra mấy hộp sâm, mấy chai rượu ngoại đã bong nhãn mác, đưa cho chúng tôi mỗi thằng một thứ rồi bảo:
- Cái này tớ được người ta biếu nhiều quá, không dùng hết. Các cậu cầm lấy đem về mà dùng, chứ để tớ lại phải sai mấy đứa giúp việc đem vứt đi thì phí của lắm, mắc tội lắm!
Chiều hôm đó, Thuận kéo cả hội vào nhà tôi. Ngồi trên giường, Thuận cởi phăng cái áo vest, nới lỏng cà vạt, dựa lưng vào cửa sổ, chân gác lên thành đầu giường như hồi học cấp 1 dụ tôi cởi trần băm bèo quét bếp, giọng thủ thỉ:
- Anh Xuân này, sắp tới em lên chức Phó Ban đấy. Để em sắp xếp anh làm thư ký cho em. Nói thật, người ta phải cầu cạnh, quà cáp biếu xén nhiều lắm thì em mới tạo cơ hội cho đấy....
Tôi cười, lắc đầu bảo mình chỉ hợp với nghề lao động tự do thôi.
Thuận lại bĩu môi rõ dài: - Ngu! Vẫn ngu như ngày nào! Người ta muốn thăng tiến không được, anh Xuân lại cứ thích bám đít con trâu.
Rồi ghé tai tôi Thuận chửi rất khẽ: - Mẹ bố nhà anh, già rồi mà vẫn gà tồ! Ngu lắm! Chả trách anh mãi bị thiên hạ lợi dụng, mãi nghèo.
Vừa lúc ấy, cái Kim bồng con đi ngang qua cổng. Mắt Thuận sáng hẳn, đứng phắt dậy, chạy ra đưa 2 tay vuốt má đứa trẻ rồi xuýt xuýt xoa xoa như mụn đang mọc trên má Thuận: - Ôi cái mụn này, giống hệt cái mụn trên má mẹ Kim nó ngày xưa. Tiếc là hồi ấy Kim chả tin...
Thằng Chủ lẩm bẩm: - Lại dê! Chả bỏ được tính dê như ngày nào.
Thuận quay phắt lại mắng: - Mày thì biết gì về thứ tình cảm thuần khiết. Mày đúng là loại suy đồi tư tưởng!
Lúc về, Thuận lại nguẩy mông bước lên xe, miệng lại mủm mỉm cười, mắt lại liếc xéo mọi người. Rồi trước khi đóng cửa, Thuận hạ kính xuống, ló cái mặt trắng trẻo ra bảo: - Anh Xuân này, nhớ đấy, mỗi bận em về là phải có rượu quê ngon mời em đấy nhé.
Xe lăn bánh, bụi mù mịt xóm Chùa. Tôi nhìn theo cái xe biển xanh của Thuận, vừa buồn cười vừa thấy lòng nhẹ nhõm. Thuận có làm đến bộ trưởng thì cái tính khôn lỏi, dỗi dai và cái kiểu "anh anh em em" nửa đùa nửa thật để rồi dúi vào tay người khác cái chổi quét nhà, con dao băm bèo, thái khoai chắc cũng chẳng bao giờ bỏ được. Mà thôi, cái làng Đá này nếu thiếu một thằng Thuận cứ thích bĩu môi, thích mắng người khác là "ngu lắm cơ" rồi nguây nguẩy cái mông quay mặt đi cười thầm thì chắc cũng chẳng còn chuyện hay ho gì để mà kể.
May mà Thuận làm quan to trên tỉnh ít về làng, chứ làm quan bé ở xã ở làng thì khối người làng Đá phải khổ vì tính khôn lỏi, giận dai của Thuận.
*.
Hà Nội, sáng 17 tháng 4-2026
I. Những Giai Thoại Về Thơ
II. Những Truyện Cổ Tích Và Thần Thoại Tình Yêu
III. Định Nghĩa Thơ
IV. Thơ Ca Việt-Nam
V. 10 Vần Thơ Đẹp – 10 Nữ Thi Sĩ Montréal Gốc Việt
VI. Bàn Luận Về Thơ
VII. Thơ Và Tình Yêu
VIII. Nhận Xét Về Thơ Của 5 Thi Sĩ Canada Gốc Việt
IX. Kết Luận
I. NHỮNG GIAI THOẠI VỀ THƠ
· ĐINH HÙNG – BÍCH LIÊN
Một ngày cuối thu năm 1940, thi sĩ Ðinh Hùng (1920-1967) nhận được hung tin người yêu là nàng Bích Liên từ trần vì bạo bệnh khi tuổi đời còn quá trẻ đã khiến ông vô cùng đớn đau điên dại! Bên cạnh những mất mát đau thương trong gia đình và sự ra đi vĩnh viễn của người yêu vì sự nghiệt ngã của định mệnh, cùng với những gian nan của cuộc đời phiền não, đã làm cho nhà thơ đáng thương trải lòng ưu tư trên trang giấy qua những vần thơ trữ tình đầy cảm xúc bi thương…
Cả hai yêu nhau tha thiết nhưng người con gái đã ra đi mãi mãi khiến cho nhà thơ đau khổ mà từ đó đã sáng tác những bài thơ cảm động tưởng niệm người yêu xinh đẹp Bích Liên sau khi nàng qua đời lúc tuổi chưa được 20! Trong nhiều bài thơ, tên Bích Liên được thay thế bằng những tên gọi khác nhau như Bạch Liên, Diệu Hương, Diệu Liên, Diệu Thư, Ý Liên…, và ông luôn luôn mang trong người tấm ảnh của nàng. (1)
Qua xứ ma sầu, ta mất trí
Thiêu đi tập sách vẽ hoa nguyền
Trời ơi! Trời ơi! Làn tử khí
Lạc lõng hương thầm đóa Bạch Liên!
(Cầu Hồn – Mê Hồn Ca, 1954)
Ta hát bài kinh, thoảng dã hương
Từng đêm chiêu niệm bắt hồn nàng
Lời ra cửa biển tìm sao rụng
Rỏ xuống mộ em giọt lệ thương…
(Màu Sương Linh Giác – Mê Hồn Ca, 1954)
Người đẹp ngày xưa tên giống hoa
Mùa xuân cây cỏ biếc quanh nhà
Thùy hương phảng phất sen đầu hạ
Lén bước trang đài tới gặp ta.
(Liên Tưởng – Đường Vào Tình Sử, 1961)
Yểu điệu phương đông lướt dưới đèn
Ta nằm mộng đẹp đêm thần tiên
Dáng xuân nghiêng mặt cười không tiếng
Lửa hạ lên rồi… – Ôi Ý Liên!
(Liên Tưởng – Ðường Vào Tình Sử, 1961)
Theo bài “Đinh Hùng: Mối Tình Hoa Sen Trắng”: “Sau khi người yêu qua đời, chịu cú sốc quá lớn, Đinh Hùng bỏ học và lang thang khắp xứ. Từ đó, những vần thơ tình tự, êm ái dần trở nên si dại. Đôi tay người nghệ sĩ từng kéo đàn vĩ cầm giờ đây chỉ vút lên được những âm thanh gay gắt, đau đớn đến tê tái.” (2)
· ELIZABETH MOULTON-BARRETT – ROBERT BROWNING
Một trăm năm trước đó, vào một ngày gần cuối xuân 1845, tại London, Anh-Quốc, nữ thi sĩ Elizabeth Moulton-Barrett (1806-1861) đã gặp gỡ người chồng tương lai là thi sĩ kiêm nhà biên kịch Robert Browning (1812-1889) mà một năm trước ông đã có dịp thưởng thức tập thơ của bà mang tựa đề Poems (Những Vần Thơ) xuất bản năm 1844 và tập thơ đã đưa tên tuổi của Elizabeth nổi tiếng khắp nơi.
Sức truyền cảm mãnh liệt từ những vần thơ trữ tình của Elizabeth làm tăng sự ái mộ của Robert đối với bà nên ông gởi đến bà một lá thư làm quen: “Tôi yêu những vần thơ của cô bằng tất cả trái tim, cô Barrett thân mến,” ông ca ngợi “một nhạc điệu lạ lùng tươi tắn, ngôn từ dồi dào, thể văn cảm động thanh cao và một suy nghĩ can đảm mới mẻ thật sự!” (“I love your verses with all my heart, dear Miss Barrett,” “fresh strange music, the affluent language, the exquisite pathos and true new brave thought.”)
Ban đầu là liên hệ tình bạn giữa hai người cùng yêu quý văn chương rồi sau đó trở thành tình yêu chân thành đưa đến việc lập gia đình với nhau năm 1846 và Elizabeth xinh đẹp trở thành Elizabeth Barrett Browning mà thời đó nữ văn sĩ Mary Russell Mitford (1787-1855) đã miêu tả Elizabeth là “một cô gái có dáng người thanh tú, mảnh mai, với một suối tóc đen tuyền xoăn dài xõa xuống hai bên khuôn mặt đầy biểu cảm nhất; đôi mắt to và dịu dàng được viền đầy đặn bởi hàng lông mi đen nhánh, và một nụ cười tươi như tia nắng.” (A slight, delicate figure, with a shower of dark curls falling on each side of a most expressive face; large, tender eyes, richly fringed by dark eyelashes, and a smile like a sunbeam.) (3)
Bài thơ “Sonnet XLIII: How Do I Love Thee?” (Em Yêu Anh Như Thế Nào?) của Elizabeth là bài thơ mang số 43 trong số 44 bài thơ tình trong tập thơ “Sonnets from the Portuguese” (Những bài thơ 14 câu từ tiếng Bồ-Ðào-Nha) (1845) (xuất bản năm 1850). Tựa đề là như vậy nhưng do bà sáng tác hoàn toàn bằng tiếng Anh, chứ không phải là dịch từ tiếng Bồ-Đào-Nha.
I love thee with a love I seemed to lose
With my lost saints. I love thee with the breath,
Smiles, tears, of all my life; and, if God choose,
I shall but love thee better after death.
(The last 4 lines of the poem “Sonnet XLIII: How do I love thee?” – 1845)
Em yêu anh một mối tình như đã mất
Cùng với những tiên thần đã khuất của em
Em yêu anh qua từng hơi thở
Qua tiếng cười, qua nước mắt, suốt đời em
Và nếu Chúa đã an bài chọn lựa
Em sẽ yêu anh biết bao sau khi vĩnh biệt thế gian này!
(Bản dịch – Trích 4 câu cuối của “Bài thơ 14 câu: Em Yêu Anh Như Thế Nào?”)
(Bồ-Đào-Nha thập tứ hàng thi, 1845, xuất bản 1850)
· GUILLAUME APOLLINAIRE – ANNIE MARIA PLAYDEN
Một ngày đầu mùa hè năm 1901, nhà thơ Pháp Guillaume Apollinaire (1880-1918) được mời làm giáo sư dạy tiếng Pháp cho cô bé Gabrielle 8 tuổi, con của bà Elinor Hölterhoff, Nữ Tử Tước miền Milhau (Millau), vùng Occitanie, phía nam nước Pháp. Bà Elinor là góa phụ của Tử Tước Gaëtan de Milhau. Tại đây Apollinaire phải lòng cô gái người Anh xinh đẹp 21 tuổi tên Annie Maria Playden (1880-1967), quản gia của gia đình bà Tử Tước gốc Đức này. Một thời gian ngắn sau đó, Nữ Tử Tước quyết định đưa gia đình về Đức-Quốc sống lâu dài tại thị trấn Bad Honnef và sau đó cư ngụ tại một biệt thự mang tên Neu-Glück (Hạnh Phúc Mới) trong ngôi làng nhỏ bé Bennerscheid, gần cố đô Bonn.
Cả gia đình bà Elinor với Annie và Apollinaire qua Đức ở, và một mối tình lãng mạn bắt đầu giữa hai người trẻ cùng sinh năm 1880. Tháng 08-1902, Apollinaire hết hạn hợp đồng dạy học một năm và trở về Paris. Sau đó, Annie cũng trở về Anh-Quốc. Vào tháng 11-1903, ông đến London, nơi ông ở chung với người bạn và cố gắng lập lại liên lạc với Annie vì biết cô đang ở thành phố này và xin cầu hôn nhưng cô từ chối. Tháng 05-1904, Apollinaire trở lại London sương mù trong nỗ lực cuối cùng để chiếm lấy trái tim người đẹp và lần nữa lại bị cô gái trẻ từ chối lời cầu hôn. Năm 1905, Annie Playden xinh đẹp với mái tóc vàng và đôi mắt quyến rũ rời Anh-Quốc, sang định cư tại California, Hoa-Kỳ, sau này lập gia đình và trở thành bà Annie Postings.
Apollinaire thất tình đã gửi gắm tâm tư vào những vần thơ sầu muộn qua các bài thơ Annie, L’Émigrant de Landor Road (Người di cư trên đường Landor), La Chanson du mal-aimé (Bài hát của người không được yêu), Le Pont Mirabeau (Chiếc cầu Mirabeau), Nuit rhénane (Đêm trên sông Rhin), v.v. đăng trong tập thơ Alcools (Rượu) xuất bản năm 1913. Landor Road là tên con đường nơi Annie về ở với cha mẹ cô tại số 75 Landor Road, London.
Nhiều bài thơ của Apollinaire chủ yếu đề cập đến những cố gắng để hồi sinh cuộc sống của ông sau mối tình bất hạnh này. Apollinaire mất năm 1918 tại Paris. Annie mất năm 1967 tại New York mà suốt 50 năm cô không bao giờ biết rằng đã có một nhà thơ vĩ đại người Pháp đã sáng tác những vần thơ trữ tình kể chuyện về mối tình lãng mạn giữa hai người!
Annie
Sur la côte du Texas
Entre Mobile et Galveston il y a
Un grand jardin tout plein de roses
Il contient aussi une villa
Qui est une grande rose
Une femme se promène souvent
Dans le jardin toute seule…
(Extrait du poème “Annie” du recueil de poésie “Alcools,”
1913 par Guillaume Apollinaire)
Annie
Trên bờ biển của miền Texas
Giữa Mobile và Galveston
Có một vườn hồng to lớn đầy hoa
Và ngôi biệt thự là đóa hồng vĩ đại
Có người phụ nữ hay đi dạo
Trong khu vườn lặng lẽ một mình…
(Bản dịch – Trích đoạn bài thơ tựa đề “Annie”
của Guillaume Apollinaire trong tập thơ “Alcools” [Rượu], 1913)
· THÔI HỘ – TỬ KHƯƠNG NƯƠNG
Ngược dòng lịch sử Á-Đông, dưới thời Vua Đường Đức Tông (Tang Dezong) (742-805) tại Trung-Hoa, có một chuyện tình lãng mạn và lâm ly, nhưng kết cuộc lại hạnh phúc viên mãn giữa hai người trẻ Thôi Hộ (Cui Hu) và Tử Khương Nương (Zi Jiang Niang).
Danh sĩ Thôi Hộ (772-846) một hôm đi dạo chơi nhân dịp tiết Thanh Minh ở phía nam kinh đô Trường-An, ngang qua một gia trang nọ có vườn hoa đào nở rất đẹp nên chàng trẻ tuổi ghé vào thăm và xin nước uống; một thiếu nữ xinh đẹp khoảng 16, 17 tuổi mở cổng và sau đó đưa nước cho chàng. Nhìn thấy cô gái, nhà thơ thẫn thờ và suốt một năm vẫn chưa xóa mờ bóng hình người đẹp hoa đào.
Hội tiết Thanh Minh năm sau, chàng lại du xuân và lần nữa đến Đào Hoa Trang, nhưng cảnh cũ còn mà người xưa không thấy! Thôi Hộ thẩn thơ và luyến tiếc chuyện xưa nên thảo ra một bài thơ ghi trên cửa nhà của giai nhân, đó là bài
Đề Tích Sở Kiến Xứ
Khứ niên kim nhật thử môn trung
Nhân diện đào hoa tương ánh hồng
Nhân diện bất tri hà xứ khứ
Đào hoa y cựu tiếu đông phong. (4)
Đề Đô Thành Nam Trang
(Đề Thơ Ở Phía Nam Đô Thành)
Năm xưa cửa ấy ngày này,
Hoa đào đua nở cho ai thêm hồng!
Nay đào đã quyến gió đông,
Mà sao người đẹp bềnh bồng nơi nao?
(Bản dịch của Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu)
Chiều tối hôm đó, gia đình người đẹp trở về nhà, Khương Nương nhìn thấy 4 câu thơ trên cửa, thấu hiểu nỗi lòng của chàng khách trẻ năm xưa và hối tiếc cho mối duyên tình không gặp lại. Hy vọng một ngày người xưa trở lại, nhưng không thấy suốt một năm, khiến nàng buồn bã rồi sinh bệnh tương tư nên tâm sự cho mẹ cha biết chuyện tình buồn của nàng.
Một hôm người cha đau khổ ra khỏi nhà thì gặp một thư sinh tuấn tú và anh chàng này hỏi ông vì lý do gì mà mặt mày đẩm lệ. Ông giải bày cho chàng nghe chuyện của người con gái yêu quý của ông. Nghe xong chàng trai bật khóc và nói: “Con là Thôi Hộ; con là người đã ghi bài thơ trên cửa nhà…” Ông cụ mừng rỡ rồi kéo chàng vào nhà, đến bên giường Khương Nương, nhưng nàng vừa trút hơi thở cuối cùng!
Quá xúc động và đau khổ tận cùng, chàng quỳ bên cạnh giường, cầm lấy tay nàng, úp mặt vào mặt nàng và khóc nức nở. Nhưng thật bất ngờ, nước mắt của chàng nhỏ xuống mặt nàng làm cho đôi mắt nàng bỗng từ từ mở ra, đăm đắm nhìn chàng và đôi môi nở nụ cười tươi thắm. Tử Khương Nương đã sống lại! Cả nhà nàng cùng Thôi Hộ đều vui mừng không tả xiết và sau đó hai người nên duyên chồng vợ.
--- Trước Thôi Hộ (Cui Hu), có Thôi Hiệu (Cui Hao) (704-754), một nhà thơ nổi tiếng cũng ở thời nhà Đường và tác giả của bài thơ nổi tiếng Hoàng Hạc Lâu (Lầu Hoàng Hạc) (Lầu Hạc Vàng).
· JOHN KEATS – FRANCES “FANNY” BRAWNE LINDON
Về lại Âu-Châu, một ngày cuối thu 1818, tại xứ sở sương mù Anh-Quốc, thi sĩ John Keats (1795-1821) gặp gỡ một cô gái 18 tuổi tên Frances “Fanny” Brawne Lindon (1800-1865) khi cô này đến thăm một gia đình người thân tại Wentworth Place, Hampstead, phía bắc London, và cũng là nơi sau này cô sẽ đến sinh sống. Từ dạo đó và cũng từ nơi đó đã nẩy sinh ra một mối tình êm dịu giữa hai người, nhưng lại là một mối tình hôn ước ngắn ngủi đầy cảm động và bi thương 3 năm sau.
Dưới đây là một đoạn trong bài thơ dài, với tựa đề nửa tiếng Pháp, nửa tiếng Anh, được viết trong lúc ông đang dành tình yêu say đắm cho người yêu Fanny Brawne, vị hôn thê xinh đẹp có đôi mắt xanh da trời và mái tóc nâu dài thướt tha.
I met a lady in the meads,
Full beautiful—a faery’s child,
Her hair was long, her foot was light,
And her eyes were wild.
“La Belle Dame sans Merci: A Ballad” by John Keats (1819)
Tôi đã gặp một quý nương trên đồng cỏ
Nàng đẹp như tiên giáng thế trần ai
Tóc dài, lướt nhẹ gót hài,
Mắt nàng là cả chuỗi ngày hoang sơ.
(Bản dịch – Trích dẫn 1 trong 12 đoạn của bài thơ
“Người Ðẹp Không Thương Xót: Một Dao Khúc” của John Keats (1819)
Trong một lá thư gởi Fanny năm 1820, John đã viết những dòng chữ yêu đương đầy xúc động, minh chứng cho tình yêu mãnh liệt của một người yêu dành cho một người yêu: (5)
Wentworth Place, March 1820.
Sweetest Fanny,
You fear, sometimes, I do not love you so much as you wish? My dear Girl I love you ever and ever and without reserve. The more I have known you the more have I lov’d. In every way – even my jealousies have been agonies of Love, in the hottest fit I ever had I would have died for you…
Bản dịch:
Wentworth Place, Tháng 03, 1820.
Fanny cưng nhất của anh,
Đôi khi em sợ rằng anh không yêu em nhiều như em muốn phải không? Cô Bé yêu quý của anh Anh yêu em mãi mãi và mãi mãi yêu em hết lòng. Càng hiểu biết em, anh càng yêu em nhiều hơn. Dầu sao đi nữa, ngay cả những cơn ghen tuông của anh chỉ là những cơn thống khổ của Tình Yêu, trong lúc nóng giận nhất mà anh từng có, anh đã muốn chết vì em…
· PHẠM THÁI (PHẠM ÐAN PHƯỢNG) – TRƯƠNG QUỲNH NHƯ
Trở lại quê nhà nước Việt mến yêu, hơn 200 năm về trước đã có một chuyện tình bi ai giữa hai nhà thơ trẻ Phạm Thái và Trương Quỳnh Như, và đó là một trong những chuyện tình buồn nhất Việt-Nam!
Phạm Thái (hay Phạm Ðan Phượng) (1777-1813) là danh sĩ thời Nhà Hậu Lê. Ông là bạn thân của Trương Đăng Thụ, con của Kiến Xuyên Hầu Trương Đăng Quỹ. Trong những ngày lưu lại ở gia trang của họ Trương, Phạm Thái đã gặp gỡ Trương Quỳnh Như, em gái của Trương Đăng Thụ. Quỳnh Như khi đó là một cô gái tuổi vừa đôi tám, vừa xinh đẹp lại giỏi thơ văn, có tâm hồn lãng mạn và thích ngao du sơn thủy. Phạm Thái và Quỳnh Như làm thơ xướng họa với nhau trong mối duyên văn tự thanh cao, rồi nảy sinh tình cảm.
Phạm Thái đã bộc bạch tâm sự bằng hai bài thơ. Để đáp lại Quỳnh Như cũng trao cho chàng tập thơ mà nàng đã sáng tác đặt tên là “Thơ Vịnh 12 Giờ.” Tập thơ từ “Giờ Tý” đến “Giờ Dậu” là ngưng. Phạm Thái hỏi: Còn hai giờ nữa sao chưa thấy? Quỳnh Như đáp: Khó quá? Hay là anh viết tiếp cho... Phạm Thái bèn cầm bút thảo ngay hai bài “Giờ Tuất” và “Giờ Hợi.” Đây là một mối tình tuyệt đẹp giữa đôi trai gái tài sắc vẹn toàn.
Cụ Trương nhận thấy Phạm Thái là người tài đức và biết được tình cảm của hai người, nên ông rất ủng hộ. Nhưng Cụ bà lại ngăn cấm, vì cho rằng Phạm Thái chưa có công danh sự nghiệp gì nên không muốn gả Quỳnh Như. Để thỏa chí trai, Phạm Thái từ biệt Quỳnh Như, vào Thanh-Hóa mưu đồ đại sự. Khi từ biệt, nàng thơ Quỳnh Như gửi chàng một bài tiễn hành.
Tiễn Phạm Thái
Sắt đá lòng này có biết chăng?
Xe duyên mong mượn gió cung Đằng.
Vườn đào sực thấy oanh đưa tín,
Dặm liễu ai xui én cách chừng?
Vàng ngọc ví không cùng một ước,
Nước non thề đã có hai vầng.
Ai sang cậy hỏi tri âm với,
Chớ phụ cầm thư đợi dưới trăng!
Nhưng điều đáng tiếc xảy ra, mẹ nàng Quỳnh Như lại không đồng ý cho con gái kết duyên với Phạm Thái mà muốn gả nàng cho người khác, khiến nàng đau khổ vô cùng, trở nên quẫn trí và đi tìm cái chết trước ngày đám cưới.
Phạm Thái nghe tin dữ, đau đớn biết bao nhưng không thể làm gì được! Sau đó chàng về thăm mộ người yêu, nghẹn ngào khóc, thắp hương và đọc bài ai điếu:
“... Ôi, chữ mệnh hẹp hòi, chữ duyên suồng sã. Những như thân giá ấy, tình cảnh ấy, ngược xuôi kia cũng ngậm ngùi cho. Huống chi ta cùng nương tử, tuy chẳng thân kia thích nọ, nhưng tình duyên ấy cũng là một chút cương thường, dẫu rằng kẻ ấy lạ người đây, song ân ái bấy lâu nay, đã biết bao nhiêu tâm sự.
Ta hăm hở chí trai hồ thỉ, bởi đợi thời nên nấn ná nhân duyên. Mình long đong thân gái liễu bồ, vì giận phận hóa ngang tàng tính mệnh. Cho nên nỗi hoa rơi lá rụng, ngọc nát châu chìm. Đau xót bởi vì đâu, não nuột bởi vì đâu...” (6)
Đọc xong mà nỗi lòng thương nhớ Quỳnh Như dạt dào không dứt nên chàng làm một bài thơ nối tiếp để chiêu niệm nàng. Từ đó Phạm Thái sinh ra chán đời, chỉ uống rượu ngâm thơ cho qua ngày để ngậm ngùi mãi về mối tình duyên lỡ dở…
Khóc cô Trương Quỳnh Như
Trời xanh cao thẳm mấy tầng khơi,
Nỡ để duyên ai luống thiệt thòi!
Buồn đốt lò vàng hương nhạt khói,
Sầu châm chén ngọc rượu không hơi.
Lầu tây nguyệt gác mây lồng bóng,
Ải bắc hồng sang bể tuyệt vời.
Một mối chung tình tan mấy mảnh,
Suối vàng, ai nhắn hộ đôi lời!
Những dẫn chứng về các chuyện tình trên đây trong số rất nhiều chuyện tình cảm động, đầy thi vị và hạnh phúc cũng như bi thương chứng minh rằng trước và sau Elizabeth–Robert, Ðinh Hùng–Bích Liên, và Apollinaire–Annie, Thôi Hộ–Khương Nương, Đan Phượng–Quỳnh Như hoặc John–Fanny, đã có biết bao cuộc tình chân ái và lãng mạn nẩy sinh mà văn học nghệ thuật là gạch nối với thơ ca là phương tiện chủ yếu và tiên phong để đưa những tâm hồn đa cảm gần gũi với nhau trong tình cảm nhân sinh và đến với nhau trong tình yêu trân quý.
Qua những giai thoại về các mối tình duyên trên, kết cuộc của chuyện tình thời nhà Ðường (742-805) giữa Thôi Hộ và Tử Khương Nương mang đậm sắc thái tâm linh lãng mạn như trong truyện tình thời Ðông Tấn (317-420) giữa Lương Sơn Bá và Chúc Anh Ðài, hay trong truyện cổ tích Việt-Nam Trương Chi và Mỵ Nương (khoảng đầu thế kỷ 18) hoặc Người Đẹp Ngủ Trong Rừng (La Belle au bois dormant – The Sleeping Beauty, năm 1340) của truyện thần tiên nước Pháp. Chính chiều kích tâm linh góp phần làm gia tăng tính chất lãng mạn và huyền bí và cũng chứng minh quyền lực của tình yêu giúp cho con người hy vọng, tin tưởng, chịu đựng và vượt qua những thử thách cùng nghịch cảnh!
II. NHỮNG TRUYỆN CỔ TÍCH VÀ THẦN THOẠI TÌNH YÊU
Những câu chuyện tình cảm cổ tích và thần thoại thế giới từ Đông sang Tây, từ Nam chí Bắc, trải dài từ khi lập sử với các thời cổ đại, đến thời trung cổ, thời phục hưng, khám phá, kỹ nghệ, rồi thời cận đại cho đến đương thời, tình yêu luôn luôn là một trong những chủ đề hấp dẫn nhất và tuyệt diệu nhất vì tính chất thu hút mãnh liệt và sự gắn bó tình cảm nồng nàn giữa con người với nhau, và đó cũng chính là định đề của đời sống con người.
Sau đây là phần sơ lược một số truyện cổ tích và thần thoại liên quan đến tình yêu trong lịch sử văn học thế giới mà phần lớn các truyện này được sáng tác bằng thơ:
Việt-Nam có các sự tích diễm tình:
- Chử Ðồng Tử – Tiên Dung (Thế kỷ thứ 4–3, khoảng năm 300 tr. Tây Lịch, thời Hùng Duệ Vương, Hùng Vương thứ 18): Tình yêu đẹp không giai cấp với kết cuộc vui.
- Trọng Thủy – Mỵ Châu (208 tr. TL đến 179 tr. TL): Tình thủy chung trong thời chiến. Kết cuộc buồn.
- Từ Thức – Giáng Hương (Truyện Truyền Kỳ Mạn Lục của Tác giả Nguyễn Dữ, khoảng năm 1547, thế kỷ 16): Tình vượt không gian và cả thời gian. Kết cuộc buồn.
- Trương Chi – Mỵ Nương (Thế kỷ 18): Tình tuyệt vọng, nỗi tương tư. Kết cuộc buồn.
- Phan Tất Chánh – Trần Kiều Liên (Truyện Phan Trần) (giữa thế kỷ 18): Yêu trong thời loạn nhưng kết cuộc vui.
- Thạch Sanh – Quỳnh Nga (cuối thế kỷ 18): Tình yêu thử thách nhưng kết cuộc vui.
- Trần Minh – Quỳnh Nga (khuyết danh và không rõ thời gian): Mối tình tươi đẹp thủy chung với kết cuộc vui.
- Lục Vân Tiên – Kiều Nguyệt Nga (1851) (Truyện Lục Vân Tiên của Tác giả Nguyễn Ðình Chiểu) (1822-1888): Tình chung thủy vượt qua nghịch cảnh với kết cuộc vui.
- Phạm Công – Cúc Hoa (1888) (theo điển tích Trung-Hoa của Tác giả Dương Minh Đức Thị): Tình vượt không gian tìm lại người yêu đã mất. Kết cuộc vui. (7)
- Lan – Điệp (1933) (Tiểu thuyết Tắt Lửa Lòng của Nhà văn Nguyễn Công Hoan
(1903-1977): Định mệnh buồn ngăn chia đôi ngã một cuộc tình với kết cuộc buồn.
Nhật-Bản có một chuyện tình tương tự chuyện Từ Thức – Giáng Hương:
- Urashima Taro – Hase (Phổ-Đảo Thái-Lang – Ất-Cơ) (Thế kỷ 8): Tình yêu vượt không gian và cả thời gian nhưng rồi đưa đến một kết cuộc buồn.
Trung-Hoa với những chuyện tình tràn đầy buồn vui xen kẽ:
- Hậu Nghệ – Hằng Nga (Hou Yi – Hange) (Nhà Chu 1046-256 tr. TL): Vì vô tình mà hai người yêu xa cách muôn trùng. Kết cuộc buồn.
- Ngưu Lang – Chức Nữ (Niulang – Zhinu) (Nhà Hán 206-202 tr. TL): Bị cách chia nhau, nhưng tình vẫn thắm thiết dẫu mỗi năm chỉ gặp nhau một lần. Chuyện tình buồn.
- Lương Sơn Bá – Chúc Anh Ðài (Liang Shanbo – Zhu Yingtai) (Thời nhà Đông Tấn)
(317–420): Không làm người nhưng làm đôi bướm trắng trong một kết cuộc vui.
Ấn-Độ có những truyện cổ tích tình yêu cảm động:
- Satyavan – Savitri: Tình yêu chiến thắng cái chết với một kết cuộc vui.
- Shah Jahan – Mumtaz Mahal: Biểu tượng của tình yêu vĩnh cửu. Kết cuộc buồn. (8)
Thời Cổ Hy-Lạp với các truyện thần thoại trữ tình và huyền bí:
- Odyssey (Ulysse) – Penelope (Tác giả Homer) (Thế kỷ 8–7 tr. TL): Tình chung thủy qua biết bao thử thách đưa đến kết cuộc vui.
- Orpheus (Orphée) – Eurydice (Thế kỷ 7 tr. TL): Tình chung thủy vượt không gian và qua thử thách để tìm lại vợ nhưng kết cuộc lại buồn.
Thời Cổ La-Mã có nhiều truyện thần thoại trữ tình hạnh phúc cũng như lâm ly như truyện:
- Cupid – Psyche (Cupidon – Psyché) (Thần Tình Yêu và Tâm Hồn) truyện của Nhà văn La-Mã
Giữa vô số những bài phê bình phim đầy rẫy thuật ngữ chuyên môn hay những lời tán dương sáo rỗng trên mặt báo, bài viết của tác giả Đặng Xuân Xuyến về bộ phim Bố Già (Web drama) của Trấn Thành hiện lên như một nốt trầm khác biệt. Không đứng ở vị thế của một nhà lý luận hàn lâm để mổ xẻ, Đặng Xuân Xuyến nhìn bộ phim bằng đôi mắt của sự trải đời và trái tim của một người bố. Những cảm nhận của ông không chỉ dừng lại ở việc bóc tách cái hay, cái dở của một sản phẩm giải trí, cũng không chỉ là một bản "giải mã" kỹ thuật điện ảnh mà còn là một bức tâm thư đầy tinh tế, kết nối giữa thực tại nghiệt ngã của nghệ thuật thương mại và vẻ đẹp vĩnh cửu của tình thân.
1. Một cái nhìn trực diện vào "cỗ máy" điện ảnh thương mại
Mở đầu bài phê bình, tác giả Đặng Xuân Xuyến không ngần ngại bóc tách lớp vỏ hào nhoáng của một "hiện tượng mạng". Ông nhìn nhận bộ phim Bố Già (web drama) một cách tỉnh táo: Đó là một sản phẩm "đậm đặc chất thương mại". Tác giả đã dùng nhãn quan của một người quan sát xã hội để thấy được sự "bày binh bố trận" của nhà sản xuất, nhà biên kịch Trấn Thành – từ việc "đo chân đóng giày" cho dàn sao đến cách lồng ghép quảng cáo.
Tuy nhiên, sự khắt khe ấy không nhằm mục đích phủ nhận tài năng của Trấn Thành. Ngược lại, tác giả Đặng Xuân Xuyến đề cao sự chuyên nghiệp trong tư duy biên kịch của Trấn Thành. Tác giả chỉ ra một chân lý giản đơn nhưng ít người làm được: Phim Việt chỉ có thể kéo khán giả trở lại khi nó mang được "hơi thở thực của cuộc sống". Chính những "lát cắt phổ cập" về gia đình mà tác giả Đặng Xuân Xuyến nhắc đến đã tạo nên nhịp cầu đồng cảm giữa tác phẩm và công chúng.
2. Sự công tâm trong bút pháp phê bình: Giữa ranh giới Bi và Hài
Điểm tạo nên sức nặng cho bài viết chính là sự sòng phẳng trong đánh giá diễn xuất. Giữa cơn bão lời khen dành cho Trấn Thành tại thời điểm đó, Đặng Xuân Xuyến đã có những nhận định rất sắc sảo về kỹ thuật biểu hình. Ông thẳng thắn chỉ ra sự "đuối" của nam chính trong các phân đoạn nội tâm sâu sắc, nơi mà kỹ thuật diễn bi chưa khỏa lấp được sự cứng nhắc của gương mặt khi quay cận cảnh.
Sự phân tích về cú đấm "nửa vời" của ông Thành dành cho Sang là một chi tiết phê bình đắt giá. Ở đó, tác giả Đặng Xuân Xuyến không chỉ xem phim bằng mắt, mà xem bằng cả sự thấu hiểu về tâm lý học hành vi. Ông nhìn thấy trong sự "nhu nhược" của nhân vật trên màn ảnh một sự chênh vênh so với ý đồ kịch bản, nhưng cũng chính từ sự soi chiếu khắt khe đó, ông lại mở lòng đón nhận những khoảnh khắc thăng hoa thực sự của diễn viên Trấn Thành ở những phân đoạn cuối phim. Đây chính là tinh thần của một nhà phê bình có tâm: chê để xây dựng, khen để khích lệ và luôn kiếm tìm sự chân thực trong nghệ thuật.
3. Phía sau con chữ: Tiếng lòng của một người cha
Điều làm nên linh hồn cho bài viết này, biến nó thoát khỏi một bài điểm phim thông thường, chính là sự kết nối kỳ diệu giữa màn ảnh và cuộc đời. Bài viết được ra đời vào lúc 2 giờ sáng - thời điểm của những suy tư chân thật nhất - sau khi tác giả Đặng Xuân Xuyến bắt gặp dòng trạng thái "nhớ Bố" của con trai mình.
Chúng ta bắt gặp ở đây một sự giao thoa cảm động: Đặng Xuân Xuyến xem phim để hiểu về nhân vật ông Thành, nhưng đồng thời cũng là để thấu hiểu cảm xúc của chính con trai mình - Đặng Tuấn Hưng. Khi Đặng Tuấn Hưng viết "Xem Bố Già thấy nhớ Bố quá", đó không chỉ là lời khen cho bộ phim, mà là lời tự tình của một người con đang sống xa nhà. Và bài phê bình này chính là câu trả lời của người bố.
4. Lời kết: Ngọn lửa nghề và tình phụ tử
Tổng kết lại, bài viết của tác giả Đặng Xuân Xuyến là một sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa tư duy lý tính và tâm hồn cảm tính. Nó nhắc nhở chúng ta rằng, nghệ thuật dù có thương mại đến đâu, cuối cùng vẫn phải quay về phục vụ những giá trị nhân bản cốt lõi.
Hơn cả một bài bình luận phim, những dòng chữ này còn mang theo cả kỳ vọng và niềm tin mà tác giả Đặng Xuân Xuyến dành cho cậu con trai Đặng Tuấn Hưng. Giữa mảnh đất phương Nam đầy nắng gió, khi cậu con trai Đặng Tuấn Hưng đang nỗ lực rèn luyện tại trường Đại học Sân khấu - Điện ảnh thành phố Hồ Chí Minh, bài viết của người bố chính là một "giáo án" sống động về sự khắt khe, công tâm và tử tế với nghề. Có lẽ, tác giả Đặng Xuân Xuyến viết về cái hay, cái dở của nhà sản xuất kiêm nhà biên kịch, diễn viên Trấn Thành hay diễn viên Tuấn Trần cũng là cách để ông gửi gắm cho cậu con trai Đặng Tuấn Hưng bài học về sự dấn thân: Nghề diễn không chỉ cần ánh hào quang, mà cần cả những giọt nước mắt thực sự và một tâm hồn biết rung động trước những nỗi đau đời thường.
Phía sau những nhận định sắc sảo ấy là ánh mắt dõi theo đầy tự hào và yêu thương của một người cha, mong con mình mai này cũng sẽ tạo ra những "lát cắt sự sống" chân thực như thế trên thánh đường nghệ thuật.
*.
Đọc bài TÌM HIỂU VỀ NGUYÊN LÝ CỦA NGŨ HÀNH của tác giả Đặng Xuân Xuyến, cảm giác đầu tiên là sự nhẹ nhõm. Nhẹ nhõm vì ông không dùng những từ ngữ đao to búa lớn mà ông viết như đang tâm sự cách nhìn đời qua lăng kính của Ngũ hành một cách tỉnh táo và nhân bản. Ông không nhìn lá số theo kiểu "vơ đũa cả nắm" hay hù dọa bằng những lời tiên tri huyền bí, mà tỉ mỉ bóc tách từng lớp quan hệ giữa Mệnh, Cục, Cung và Sao. Đây chính là một cống hiến thực tế, giúp người học Tử vi thoát khỏi cách đoán mò để bước vào thế giới của sự logic và định lượng.
Cái hay nhất của Đặng Xuân Xuyến là ông đã chỉ ra "quyền chỉ huy" của bản Mệnh đối với các vì sao. Trong khi nhiều người coi Tử vi là sự áp đặt định mệnh, ông lại khẳng định: sao có thuộc về mình hay không, mình có điều khiển được nó hay không, tất cả nằm ở mối tương quan Ngũ hành. Ông phân tích các nguyên tắc tương tác một cách rất "đời". Chẳng hạn, khi hành sao đồng hành với hành Mệnh, đó là trạng thái tốt nhất vì "sao đó thuộc về mình, mình hoàn toàn chỉ huy được nó". Lúc này, cái Mệnh không còn là kẻ thụ động ngồi chờ phúc họa, mà trở thành người làm chủ năng lượng xung quanh mình.
Ông nhìn nhận về sự "hao tổn" và "đắc lợi" rất thực tế. Ông chỉ ra một góc khuất: không phải cứ gặp cát tinh (sao tốt) là sướng. Nếu Mệnh phải vất vả "sinh xuất" để nuôi ngôi sao đó, thì dù sao có tốt đến mấy, bản thân mình vẫn hụt hơi, kết quả chẳng được toàn vẹn. Ngược lại, nếu hành của sao sinh cho Mệnh, kể cả đó là sao xấu, thì cái xấu đó cũng bị chiết giảm vì nó đã mất sức để nuôi Mệnh rồi. Cách luận giải này cực kỳ nhân văn, cho thấy trong cái rủi có cái may, quan trọng là ta biết mình đang đứng ở vị thế nào.
Ông coi Cung an Mệnh giống như ngôi nhà hay môi trường sống. Nếu Cung sinh Mệnh, đó là thế "ngồi mát ăn bát vàng", môi trường đang nuôi nấng, che chở mình. Còn nếu Cung khắc Mệnh, ông thẳng thắn bảo đó là thế "xấu nhất", vì con người phải gồng mình chống chọi với hoàn cảnh nên luôn mệt mỏi, bất lợi.
Nhiều người nghĩ Mệnh khắc được Cung là mình giỏi, mình làm chủ. Nhưng Đặng Xuân Xuyến lại bảo: dù có "khắc thắng" thì anh cũng phải tổn hao nguyên khí, giống như đánh thắng một trận đại chiến thì quân mình cũng tan tác, bản thân bị "giam cầm, bó tay không hoạt động được". Cái nhìn này rất "người": không phải cứ áp chế được hoàn cảnh là hay, mà sự thuận hòa mới là gốc của hưng thịnh.
Bàn đến Tam hợp Cục – cái thế trận của môi trường xã hội rộng lớn hơn, ông cũng dùng cái lý hưng vượng để định nghĩa thành bại. Nếu thời thế sinh cho mình, mình sẽ hưng thịnh nhất. Còn nếu phải "sinh xuất" để nuôi lại thời thế thì mình bị tiết khí, suy kiệt. Ông xếp hạng rõ ràng cái nào "xấu nhất", cái nào "xấu nhì", không lờ mờ nước đôi.
Ông không bắt người đọc tin vào điều huyền bí, mà chỉ rõ: anh mệt mỏi vì bị Cung khống chế, anh vất vả không có công vì đang phải nuôi cái Cục. Cách luận giải này làm Tử vi trở nên gần gũi, là chuyện của "nguyên khí", của "sức khỏe" và sự "hòa hợp". Ông cho rằng một lá số đẹp không chỉ ở những ngôi sao sáng, mà quan trọng nhất là được môi trường (Cung) và thời thế (Cục) bồi đắp.
Tóm lại, Đặng Xuân Xuyến đã biến những tinh đẩu thành những "đối tác" năng lượng. Nhờ sự tỉ mỉ, không bỏ sót ngóc ngách nào để soi chiếu qua lý Ngũ hành, ông đã làm "mềm" đi những lý thuyết khô khan, giúp người xem số có cái nhìn tinh tế về từng bước thăng trầm của một kiếp người. Con người trong văn ông không thể sống tách rời môi trường, hoàn cảnh, và sự hòa hợp chính là chìa khóa để tìm thấy bình an trong số phận.
Đọc trọn vẹn những trang viết của Đặng Xuân Xuyến về cách ứng dụng Ngũ hành vào Tử vi, cảm giác như ta vừa tìm được một "bản đồ chỉ đường" rành mạch giữa một rừng lý thuyết mênh mông. Giọng văn của ông mộc mạc, viết về Tử vi mà nghe như đang bàn chuyện đời, chuyện người. Ông không coi lá số là một cái gì đó bất biến, mà nhìn nó như một sự tương tác năng lượng không ngừng giữa con người (Mệnh) với hoàn cảnh (Cung) và thời thế (Cục).
Cái hay của Đặng Xuân Xuyến nằm ở cách ông nhìn về sự "an thân lập mệnh" của các vì sao. Ông ví cái Cung như nền đất, còn Sao như cái cây trồng trên đó. Nếu đất sinh cho cây (Cung sinh Sao) thì cây mới tốt tươi, rạng rỡ được. Còn nếu Cung khắc Sao, ông bảo đó là thế "xấu nhất", vì cái gốc đã bị lung lay thì dẫu có là sao tốt cũng chẳng còn mấy sức mạnh mà ban phát phúc lành. Cách luận này giúp người xem số không còn bị hoa mắt bởi những ngôi sao sáng chói, mà biết nhìn xuống cái "nền" xem ngôi sao đó có thực sự "đắc địa" hay không.
Đến khi bàn về tương quan giữa Mệnh và Cục, ông lại cho thấy một cái nhìn rất thực tế về thời thế. Ông coi Cục như cái khuôn mẫu, cái môi trường xã hội mà mình phải sống trong đó. Nếu Cục sinh cho Mệnh, ông gọi đó là "tốt nhất" – giống như mình sinh ra đã gặp thời, được đời ưu ái, nâng đỡ. Ngược lại, nếu Mệnh phải sinh cho Cục, ông thẳng thừng bảo đó là sự suy yếu. Mình cứ mải miết cống hiến, mải miết "sinh xuất" để nuôi cái môi trường xung quanh thì bản thân mình sớm muộn cũng hụt hơi, kiệt quệ.
Ông nhấn mạnh việc xét hành của Sao với hành của Mệnh là quan trọng nhất, vì nó quyết định việc anh có "chỉ huy" được ngôi sao đó hay không. Đặc biệt, tôi rất tâm đắc với cách ông giải thích về thế "khắc thắng". Xưa nay người ta cứ hay tự hào khi mình ở thế thượng phong, là kẻ đi khắc người khác. Nhưng với Đặng Xuân Xuyến, dù anh khắc được Sao hay khắc được Cục, ông vẫn chỉ xếp vào hạng trung bình. Bởi cái giá của sự chiến thắng là sự "giam cầm", là "bó tay không hoạt động được". Ông đưa ra một bài học nhân sinh sâu sắc: sự đối đầu, dù mình thắng, cũng chẳng bao giờ đem lại sự hanh thông thực sự; chỉ có sự tương trợ lẫn nhau mới là con đường dẫn đến hưng vượng bền lâu.
Ông nhìn về cung Thân (hậu vận) cũng cực kỳ thực tế. Ông không dùng Mệnh làm chuẩn nữa mà lấy hành của Cục làm gốc. Điều này ngầm hiểu: lúc trẻ anh có thể sống bằng bản sắc riêng (Mệnh), nhưng khi về già, sự thành bại phụ thuộc vào việc anh có hòa hợp với môi trường, với thời cuộc (Cục) hay không. Cách luận giải này giúp "giải mã" cái mê hồn trận của lý số một cách dễ hiểu, biến những khái niệm khô khan thành những bài học về sự cân bằng.
Trong phần kết, dù bộc lộ sự khiêm cung khi ví mình như "ếch ngồi đáy giếng", nhưng thực tế Đặng Xuân Xuyến đã làm được một việc lớn: "logic hóa" Tử vi. Ông biến một bộ môn nặng tính cảm tính thành một hệ thống có thang đo rạch ròi. Tóm lại, cống hiến của ông là đã đưa Tử vi trở về đúng nghĩa một bộ môn khoa học dự báo dựa trên sự cân bằng năng lượng. Ông quan niệm người xem số phải biết linh động, không máy móc, và quan trọng nhất là hiểu được cái lý của sự hòa hợp. Đọc những gì ông viết, người ta bớt sợ hãi định mệnh mà biết trân trọng sự nỗ lực và cách ứng xử của bản thân với môi trường xung quanh..
*
2) Ðể rút ra danh sách của NSGM (unsubscribe),
xin gửi email về GiaoMua2025@gmail.com
3. Mọi chi tiết, thể lệ, thắc mắc, xin gửi về:
GiaoMua2025@gmail.com
4. Mọi bài vở, đóng góp, xin gửi về:
GiaoMua2025@gmail.com
Nguyệt San Giao Muà
Homepage: http://www.GiaoMuạcom
Thể lệ gửi bài cho Nguyệt San Giao Muà:
Mong bạn gửi Bài cho GM theo cách này là tốt nhất :
1. Dùng mẫu chữ Unicode
2. Viết Hoa chữ đầu của bài và bút hiệụ Ví dụ: Giọt Mưa Trên Lácủa NS Phạm Duy
3. Gửi bài ngay trong email (không kèm file), để cho BBT khỏi mất công download xuống để đọc
4. Gửi tất cả các bài trong 1 tháng 1 lần trong1 email, nếu tiện.
5. Bài vở xin gửi đến trước ngày 25 mỗi tháng
6. Mọi chi tiết, thể lệ, thắc mắc, xin gửi về: GiaoMua2025@gmail.com
Cám ơn bạn rất nhiều, vì nhân sự có hạn, BBT không thể ngồi đánh máy lại từng đề bài hay bút hiệụ
Merrifield, Virginia 22116
USA
Trang Nhà